Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ 1. Khái niệm về FDI và phân phối bán lẻ 1. Khái niệm và đặc điểm của FDI 1.1 Khái niệm về FDI - Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đƣa ra khái niệm vào năm 1977, đƣợc chấp nhận khá rộng rãi: “FDI là một hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ. Mục đích của nhà đầu tƣ là giành đƣợc quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.[26, tr9] Phân tích: Lợi ích lâu dài (hay mối quan tâm lâu dài – lasting interest) : khi tiến hành đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, các nhà đầu tƣ thƣờng đặt ra các mục tiêu lợi ích dài hạn.
Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tƣ trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tƣ trực tiếp đồng thời có một mức độ ảnh hƣởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này. Quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (effective voice in management) ở đây chính là quyền kiểm soát doanh nghiệp. Quyền kiểm soát doanh nghiệp là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nhƣ thông qua chiến lƣợc hoạt động của công ty, phê chuẩn kế hoạch hành động do ngƣời quản lý hàng ngày của doanh nghiệp lập ra, quyết định việc phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là những quyền ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển sống còn của doanh nghiệp. - Khái niệm của OECD: FDI là hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là 10 z những khoản đầu tƣ mang lại khả năng tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: [26, tr9] + Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ; + Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; + Tham gia vào một doanh nghiệp mới; + Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết trở lên.
Phân tích khái niệm: Khái niệm của OECD về cơ bản cũng giống với khái niệm của IMF về FDI, đó cũng là thiết lập các mối quan hệ lâu dài (tƣơng tự với việc theo đuổi lợi ích lâu dài trong khái niệm của IMF) và tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ ra cụ thể hơn cách thức để nhà đầu tƣ tạo ảnh hƣởng đối với hoạt động quản lý doanh nghiệp đó là: Hoặc thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hay một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ (GI) : 100% Hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có (M&A): 100% Hoặc tham gia vào một doanh nghiệp mới (liên doanh) > OR = 10% Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm): hoạt động cấp tín dụng của công ty mẹ dành cho công ty con với thời hạn lớn hơn 5 năm cũng đƣợc coi là hoạt động FDI. Về quyền kiểm soát doanh nghiệp FDI, OECD quy định rõ là 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết trở lên. - WTO đƣa ra định nghĩa nhƣ sau về FDI: FDI xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trƣờng hợp, 11 z cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng đƣợc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản đƣợc gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.[66] - Theo định nghĩa của chính phủ Mỹ, ngoài những nội dung tƣơng tự khái niệm FDI của IMF và OECD, FDI còn gắn với “quyền sở hữu hoặc kiểm soát 10% hoặc hơn thế các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh nghiệp hoặc lợi ích tƣơng đƣơng trong các đơn vị kinh doanh không có tƣ cách pháp nhân”. Bên cạnh việc có một lƣợng cổ phần trong doanh nghiệp, có nhiều cách khác để các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể dành đƣợc một mức độ ảnh hƣởng hiệu quả nhƣ: hợp đồng quản lý, hợp đồng thầu phụ, thỏa thuận chìa khóa trao tay, franchising, thuê mua, licensing… Đây không phải là FDI vì nó không đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định.
Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới đƣợc coi là FDI. - Theo quan niệm của Việt Nam: Luật đầu tƣ năm 2005 mà quốc hội khóa XI đã thông qua có các khái niệm về đầu tƣ, đầu tƣ trực tiếp, đầu tƣ nƣớc ngoài, đầu tƣ ra nƣớc ngoài nhƣng không có khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài – FDI. Tuy nhiên, có thể gộp các khái niệm trên lại và hiểu FDI là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoat động đầu tƣ ở Việt Nam hoặc nhà đầu tƣ Việt Nam bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ ở nƣớc ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Kết luận: FDI là một khoản đầu tƣ đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ảnh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát (control) của một chủ thể cƣ trú ở một nền kinh tế (đƣợc gọi là chủ đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cƣ trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế 12 z của chủ đầu tƣ nƣớc ngoài (đƣợc gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nƣớc ngoài).
FDI chỉ ra rằng Chủ đầu tƣ phải có một mức độ ảnh hƣởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp cƣ trú ở một nền kinh tế khác. Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới đƣợc coi là FDI.2 Đặc điểm của FDI - Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tƣ tƣ nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là các nƣớc đang phát triển cần lƣu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội ở nƣớc mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tƣ. - Các chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nƣớc để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tƣ.
Luật các nƣớc thƣờng quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%. Việt Nam theo luật hiện hành thì Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể góp vốn với tỷ lệ không quá 49%. Còn theo quy định của OECD thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thƣờng (OR) hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp – mức đƣợc công nhận cho phép nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp.
- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng đƣợc phân chia dựa vào tỷ lệ này. 13 z - Thu nhập mà chủ đầu tƣ thu đƣợc phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tƣ, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. - Chủ đầu tƣ quyết định đầu tƣ, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tƣ, hình thức đầu tƣ, thị trƣờng đầu tƣ, quy mô đầu tƣ và cũng nhƣ công nghệ cho mình do đó sẽ tự đƣa ra những quyết định có lợi nhất cho họ.
Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho các nền kinh tế nƣớc nhận đầu tƣ. FDI thƣờng kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Thông qua hoạt động FDI, nƣớc chủ nhà có thể tiếp nhận đƣợc công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Ví dụ trong lĩnh vực bƣu chính viễn thông của Việt Nam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vực này có đƣợc nhờ chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài.
Tóm lại, điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức đầu tƣ khác là quyền kiểm soát, quyền quản lý đối tƣợng tiếp nhận đầu tƣ. Đối với nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thì ƣu điểm của hình thức này là tính ổn định và hiệu quả sử dụng vốn của FDI cao hơn các hình thức khác. Nhà đầu tƣ không dễ dàng rút vốn để chuyển sang các hình thức đầu tƣ khác nếu thấy sự bất ổn của nền kinh tế nƣớc nhận đầu tƣ. Do đó, mức độ ổn định của dòng vốn đầu tƣ đối với host country cao hơn.
Nhƣợc điểm là host country bị phụ thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI. Đối với nhà đầu tƣ: Chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ, lợi nhuận thu về cao hơn. Có thể chiếm lĩnh thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, khai thác nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thế khác của nƣớc nhận đầu tƣ, tranh thủ những ƣu đãi từ các nƣớc nhận đầu tƣ. 14 z Tuy nhiên, hình thức này mang tính rủi ro cao vì anh ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về dự án đầu tƣ.
Hoạt động đầu tƣ chịu sự điều chỉnh từ phía nƣớc nhận đầu tƣ. Không dễ dàng thu hồi và chuyển nhƣợng vốn. Khái niệm về phân phối bán lẻ 1.1 Khái niệm - Theo định nghĩa của Hội đồng thƣơng mại và phát triển của Liên hợp quốc: Bán lẻ là hoạt động mà nhà phân phối bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng.