CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nhiều năm trở lại đây đã có nhiều đề tài, dự án của các tác giả nghiên cứu về thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CHDCND Lào nói chung và các huyện, địa phương của CHDCND Lào nói riêng. Cụ thể như sau: Luận án tiến sỹ của Lamngeun SAYASENE (2017) về “Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển công nghiệp tại nước CHDCND Lào” đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực trạng quá trình thu hút đầu tư trực tiếp ngoài vào phát triển công nghiệp của CHDCND Lào trong đó có thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam; trên cơ sở đó Luận án đã đề xuất định hướng, quan điểm, mục tiêu và các giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI nói chung và FDI của Việt Nam vào CHDND Lào để phát triển công nghiệp; Luận án tiến sỹ của SOMSACK SENGSACKDA (2020) về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Chăm PA Sắc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”, luận án đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về đầu tư trước tiếp nước ngoài và những tác động nó đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nước tiếp nhận đầu tư và ở một tỉnh thuộc quốc gia tiếp nhận đầu tư trên cấp độ địa phương. Luận án cũng phân tích, đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Chăm Pa Sắc, CHDCND Lào; từ đó tác giả đề xuất phương hướng và một số nhóm giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế những tiêu cực của FDI với phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Chăm Pa Sắc, CHDCND Lào. Luận văn thạc sỹ của BOUNYARIT VANNALY (2017) về “Thu hút nguồn vốn FDI vào Thủ đô Viêng chăn nước CHDCND Lào – Thực trạng và giải pháp”.
Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận có luên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài; nghiên cứu, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến FDI vào thủ đô Viêng chăn và thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thủ đô, từ đó rút ra những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục; tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CHDCDND Lào nói chung và thủ đô Viêng Chăn nói riêng. 5 Có thể nhận thấy, cho đến nay đã có rất nhiều các đề tài của các tác giả nghiên cứu về thực trạng thu hút FDI để phát triển kinh tế - xã hội vào CHDCND Lào và một địa phương của CHDCND Lào. Tuy nhiên, rất ít đề tài nghiên cứu sâu thực trạng thu hút FDI của các doanh nghiệp Việt Nam vào CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu thực trạng thu hút FDI của các doanh nghiệp Việt Nam vào CHDCND Lào là rất cần thiết, qua quá trình nghiên cứu thực trạng có thể đưa ra giải pháp tăng cường thúc đẩy việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI của các doanh nghiệp Việt Nam vào CHDCND Lào.
6 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 2. Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 2. Khái niệm Trong xu hướng toàn cầu hóa, hiện đại hóa nền kinh tế hiện nay trên thế giới, hoạt động đầu tư quốc tế giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia cũng như sự phát triển của nền kinh tế trên cả thế giới. Có thể nói, ta đang sống trong thời đại “quốc tế hóa về đầu tư”.
Các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều đã và đang có những bước đi mạnh mẽ thúc đẩy việc đầu tư nước ngoài, Thông qua đó có thể mở rộng thị trường, nâng cao được hiệu quả việc sử dụng vốn, vượt qua những rào cản trong thương mại và đóng góp cơ cấu lại nền kinh tế của quốc gia,… Căn cứ vào tính chất và cách thức sử dụng vốn, đầu tư quốc tế được chia thành hai hình thức: Đầu tư gián tiếp nước ngoài và Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đầu tư gián tiếp (FII: Foreign Indirect Investment) là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư nước ngoài góp một phần vốn mà không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn. Hình thức này chủ yếu được thực hiện bằng việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác trên thị trường chứng khoán quốc tế. Đầu tư trực tiếp (FDI: Foreign Direct Investment) là một hình thức đầu tư quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của một cá nhân hay một doanh nghiệp nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh tại quốc gia được nhận đầu tư. Đứng ở góc độ quốc gia nhận vốn đầu tư, gọi là hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài, còn đứng ở góc độ quốc gia đi đầu tư, gọi là hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài - cụ thể là hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt nam vào quốc gia Lào. 7 Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Theo tổ chức Thương mại thế giới (WTO): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), FDI được hiểu theo nghĩa rộng hơn: “FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm)”. Tại Việt Nam, theo Luật Đầu tư 2014 lại cho rằng: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Theo nghị định 78/NĐ-CP ngày 09/08/2006 và dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 78 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì lại cho rằng “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài. Luật Đầu tư 2020 giải thích khái niệm về OFDI là "việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn đầu tư này để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ở nước ngoài”; và cũng dành riêng Chương V để quy định về hoạt động OFDI. Theo đó: Quốc hội chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có vốn đầu tư từ 20.000 tỷ đồng trở lên; Thủ 8 tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án thông thường có số vốn đầu tư từ 800 tỷ đồng trở lên hoặc các dự án có điều kiện với số vốn từ 400 tỷ đồng trở lên.
Theo Luật khuyến khích đầu tư của CHDCND Lào (ban hành năm 1988, sửa đổi bổ sung vào những năm 1994, 2004 và 2011) thì lại cho rằng “Đầu tư trực tiếp nước ngoài có nghĩa là sự đưa vào CHDCND Lào vốn gồm có tài sản, công nghệ và kinh nghiệm quản lý với mục đích để kinh doanh”. Chung quy lại, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một loại hình đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng mới hoặc mua lại một phần hay toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ngoài. Đồng thời, chủ đầu tư là người trực tiếp tham gia quản lý, điều hành cũng như chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư. Trên thực tế, những quan niệm về đầu tư cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn liên tục được sửa đổi bổ sung để phù hợp với những biến đổi và thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới.
Các hình thức của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Hiện nay, các hoạt động OFDI ngày càng diễn ra sôi động dưới nhiều hình thức khác nhau. Có rất nhiều cách thức để phân chia các hình thức OFDI. Cụ thể như sau: Theo cách thức xâm nhập, OFDI được chia thành hai dạng: - Đầu tư mới: Các chủ đầu tư nước ngoài thực hiện góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại quốc gia nhận đầu tư. Hình thức này phổ biến trong trường hợp một nước phát triển đầu tư trực tiếp vào một đất nước đang ở trình độ phát triển thấp hơn.
- Mua bán và sát nhập: Chủ đầu tư nước ngoài thực hiện việc mua lại hoặc sáp nhập với một cơ sở sản xuất kinh doanh đã có sẵn ở quốc gia nhận đầu tư. Hình thức M&A này giúp nhà đầu tư nước ngoài tận dụng được thị trường cũng như kinh nghiệm và nguồn nhân lực sẵn có của doanh nghiệp bị sáp nhập hoặc mua lại. Hình thức này phổ biến trong trường hợp các nước phát triển đầu tư vào nhau hoặc các nước mới nổi đầu tư vào các nước phát triển.