phần mở đầu và kết luận, Luận văn có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Lý luận chung về đầu tƣ phát triển tại doanh nghiệp Chƣơng II: Thực trạng hoạt động đầu tƣ phát triển tại Công ty Điện tử Tin học Hóa chất giai đoạn 2003 - 2007 Chƣơng III: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động đầu tƣ phát triển tại Công ty Điện tử Tin học Hóa chất CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TẠI DOANH NGHIỆP KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TẠI DOANH NGHIỆP Khái niệm và phân loại hoạt động đầu tƣ 1. Khái niệm đầu tư Đầu tƣ nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó. Nhƣ vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tƣ là đạt đƣợc các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà ngƣời đầu tƣ phải gánh chịu khi tiến hành đầu tƣ. Loại đầu tƣ đem lại các kết quả không chỉ ngƣời đầu tƣ mà cả nền kinh tế xã hội đƣợc thụ hƣởng, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của chủ đầu tƣ mà của cả nền kinh tế chính là đầu tƣ phát triển.
Còn các loại đầu tƣ chỉ trực tiếp làm tăng tài sản tài chính của ngƣời đầu tƣ, tác động gián tiếp đến làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích lũy của các hoạt động đầu tƣ này cho đầu tƣ phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tƣ phát triển và thúc đẩy quá trình lƣu thông phân phối các sản phẩm do các kết quả của đầu tƣ phát triển tạo ra, đó là đầu tƣ tài chính và đầu tƣ thƣơng mại. Phân loại đầu tư a. Đầu tƣ tài chính Là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hƣởng lãi suất định trƣớc (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tƣ tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tƣ (đánh bạc nhằm mục đích thu lời cũng là một loại đầu tƣ tài chính nhƣng bị cấm do gây nhiều tệ nạn xã hội.
Công ty mở sòng bạc để phục vụ nhu cầu giải trí của ngƣời đến chơi nhằm thu lại lợi nhuận về cho Công ty thì đây lại là đầu tƣ phát triển nếu đƣợc Nhà nƣớc cho phép và tuân theo đầy đủ các quy chế hoạt động do Nhà nƣớc quy định để không gây ra các tệ nạn xã hội). Với sự hoạt động của hình thức đầu tƣ tài chính, vốn bỏ ra đầu tƣ đƣợc lƣu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhƣợng trái phiếu, cổ phiếu cho ngƣời khác). Điều đó khuyến khích ngƣời có tiền bỏ ra để đầu tƣ. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tƣ nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền.
Đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tƣ phát triển. Đầu tƣ thƣơng mại Là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tƣ này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thƣơng), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của ngƣời đầu tƣ trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa ngƣời bán với ngƣời đầu tƣ và ngƣời đầu tƣ với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tƣ thƣơng mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lƣu thông của cải vật chất do đầu tƣ phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tƣ phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung (chúng ta cần lƣu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tƣ thƣơng mại xét về bản chất, nhƣng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lý lƣu thông phân phối, gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi của ngƣời tiêu dùng).
Đầu tƣ phát triển Xét về bản chất chính là đầu tƣ tài sản vật chất và sức lao động trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngƣời dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dƣỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thƣờng xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Đầu tƣ phát triển, đầu tƣ tài chính và đầu tƣ thƣơng mại là 3 loại đầu tƣ luôn tồn tại và có quan hệ tƣơng hỗ với nhau. Đầu tƣ phát triển tạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triển hoạt động đầu tƣ tài chính và đầu tƣ thƣơng mại.
Ngƣợc lại, đầu tƣ tài chính và đầu tƣ thƣơng mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cƣờng đầu tƣ phát triển. Khái niệm và đặc điểm đầu tƣ phát triển tại doanh nghiệp 1.1 Khái niệm đầu tư phát triển tại doanh nghiệp Hoạt động đầu tƣ phát triển tại doanh nghiệp chính là hoạt động đầu tƣ phát triển đƣợc xem xét trong phạm vi doanh nghiệp, không phải xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, nội dung đầu tƣ phát triển xem xét có thể khác nhau. Trên góc độ nền kinh tế, đầu tƣ phát triển phải làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải là hiện tƣợng chu chuyển tài sản giữa các đơn vị.
Ví dụ, việc mua bán tài sản cố định giữa các đơn vị, vẫn đƣợc xem là hoạt động đầu tƣ của các đơn vị này, nhƣng trên phƣơng diện nền kinh tế, không có đầu tƣ tăng thêm mà chỉ chuyển quyền sở hữu từ đơn vị này sang đơn vị khác. Nói cách khác, đầu tƣ phát triển tại các doanh nghiệp là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, nhà xƣởng, mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị trang bị cho hạ tầng kỹ thuật nhằm duy trì và nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.2 Đặc điểm đầu tư phát triển tại doanh nghiệp Các doanh nghiệp điện tử tin học hóa chất có đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, do vậy hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp bên cạnh các đặc điểm của hoạt động đầu tƣ phát triển nói chung cũng có một số đặc điểm đặc thù. Thứ nhất, quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn. Vốn đầu tƣ lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tƣ.
Quy mô vốn đầu tƣ lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, kế hoạch đầu tƣ đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tƣ, bố trí vốn theo tiến độ đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ trọng tâm trọng điểm. Thứ hai, thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tƣ tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đƣa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tƣ phát triển có thời gian đầu tƣ kéo dài hạng chục năm.
Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tƣ nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tƣ, cần tiến hành phân kỳ đầu tƣ, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tƣ, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản. Thứ ba, thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian vận hành các kết quả đầu tƣ tính từ khi đƣa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tƣ chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế xã hội.
Thứ tư, các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng tại ngay nơi nó được tạo dựng. Do đó quá trình thực hiện đầu tƣ cũng nhƣ thời kỳ vận hành các kết quả đầu tƣ chịu ảnh hƣởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. Không thể dễ dàng di chuyển các công trình đã đầu tƣ từ nơi này sang nơi khác, nên trong công tác quản lý hoạt động đầu tƣ phát triển mỗi doanh nghiệp cần phải có chủ trƣơng đầu tƣ và quyết định đầu tƣ đúng đắn, đồng thời tiến hành lựa chọn địa điểm đầu tƣ hợp lý. Thứ năm, đầu tư phát triển có độ rủi ro cao.
Do quy mô vốn đầu tƣ lớn, thời kỳ đầu tƣ kéo dài và thời gian vận hành kết quả đầu tƣ kéo dài nên đầu tƣ phát triển bao giờ cũng chịu mức rủi ro cao. Rủi ro đầu tƣ do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tƣ quản lý kém, chất lƣợng sản phẩm không đạt yêu cầu. hoặc do các nguyên nhân khách quan nhƣ sự biến động của nguyên nhiên vật liệu đầu vào, sự thu hẹp của thị trƣờng đầu ra, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế.