CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đầu tư phát triển 1.1 Đầu tư Theo nghĩa thông thường, Nguyễn Lân (2000), tr. 594, “đầu tư’ được hiểu là việc bỏ vốn, công sức nhằm mục đích sinh lời. Theo Jeswald Salacuse (2009), p.18, trong tiếng Latinh “investire” (đầu tư) có nghĩa là “cung cấp”, tức là nhà đầu tư cung cấp vốn cho doanh nghiệp thông qua hoạt động đầu tư. Theo Luật đầu tư (Luật số 61/2020/QH14) ngày 17 tháng 06 năm 2020, Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác.
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư.2 Đầu tư phát triển Giáo trình Lập Dự Án Đầu Tư của PGS. Nguyễn Bạch Nguyệt, 2015, “đầu tư phát triển” là một phương thức của đầu tư trực tiếp.
Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Theo tác giả Thành, Đậu Công. "Đầu tư phát triển tại Công ty truyền tải Điện I giai đoạn 2011-2020." (2016) Khái niệm đầu tư phát triển tại các doanh nghiệp truyền tải điện “ĐTPT trong các DN TTĐ là việc đầu tư vào các công trình lưới điện nhằm tạo ra hệ thống lưới điện truyền tải ngày càng hiện đại, từ đó làm tăng sản lượng điện năng cung ứng trên thị trường thông qua hệ thống TTĐ và giảm tỷ lệ tổn thất điện năng”. Phân biệt đầu tư phát triển với các loại đầu tư khác 6 Giáo trình Kinh Tế Đầu Tư của TS.
Từ Quang Phương (2015) a. Đầu tư tài chính: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Đầu tư thương mại Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi bán.
Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung. Đầu tư phát triển Xét về bản chất chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước.2 Vai trò của đầu tư phát triển 1.1 Trên góc độ vi mô: Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi.
Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra. Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư.2 Trên góc độ vĩ mô Mô hình Harrod - Domar Đầu tư phát triển là một nhân tố vô cùng quan trọng tác động trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Theo mô hình Harrod – Domar, mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần. g = dY/Y = (dY / dK) * (dK / Y) dY = I / ICOR Trong đó: - dY là mức gia tăng sản lượng - dK là mức gia tăng vốn đầu tư - I là mức đầu tư thuần - K tổng quy mô vốn của nền kinh tế - Y là tổng sản lượng của nền kinh tế - ICOR là hệ số gia tăng vốn – sản lượng Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện rất rõ nét trong tiến trình đổi mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua.
Với chính sách đổi mới, các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hóa và gia tăng về quy mô, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đạt được cũng rất thỏa đáng. Cuộc sống con người cũng tăng lên từ giáo dục, vui chơi giải trí đến nghỉ ngơi.3 Vai trò của đầu tư phát triển tại doanh nghiệp truyền tải điện - Góp phần xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm lắp đặt trang thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ “khoa học kỹ thuật trong hoạt động SXKD của DN TTĐ, thay thế MMTB đã cũ, lạc hậu. - Đầu tư cho các công trình XDCB như nhà xưởng, nhà điều hành, TBA để “nâng cao chất lượng và khả năng” truyền tải ngày một tốt hơn. - Ngoài ra, ĐTPT tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân, kỹ sư, đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất.3 Đặc điểm đầu tư phát triển 1.1 Đặc điểm chung a.
Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm. Nguồn vốn huy động cho các dự án có thể do ngân sách nhà nước cấp phát, ngân hàng cho vay, vốn góp Cổ phần, vốn liên doanh, vốn tự có hoặc vốn huy động từ các nguồn khác. Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về mặt lượng mà cả về thời điểm nhận được tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn.
Sự đảm bảo này thể hiện ở tính pháp lý và cơ sở thực tế của các nguồn vốn huy động. Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm quốc gia. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư. Vốn, lao động, vật tư là những tiền đề cho bất kì cho một hoạt động đầu tư phát triển nào.
Vì các dự án tiêu tốn một lượng rất lớn các yếu tố trên, do đó người lập dự án 9 phải tính toán chi tiết cả về mặt chi phí và mặt lợi nhuận để đảm bảo dự án phải có lãi cho nhà đầu tư và đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội. Thời kì đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Do quy mô các dự án đầu tư thường rất lớn nên thời gian hoàn thành các dự án thường tốn rất nhiều thời gian, có khi tới hàng chục năm như các công trình thuỷ điện, xây dựng cầu đường. Thời gian thực hiện các dự án đầu tư dài kéo theo sự ảnh hưởng đến tiến độ nghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng, do đó có thể làm giảm hiệu quả đầu tư, thời gian thu hồi vốn chậm.Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro cũng như chi phí đầu tư lại càng lớn (những biến động của thị trường lao động , thị trường vật tư, do lạm phát hay do sự ảnh hưởng biến động kinh tế thế giới làm cho chi phí thực hiện biến đổi, thường theo hướng xấu nó làm sai khác các tính toán ban đầu của người lập dự án) , hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thời gian vận hành kéo dài Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình.