Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Chương 2. Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển khu công nghiệp Chương 3. Thực trạng đầu tư phát triển khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương Chương 4.
Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư phát triển khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 2. Lý luận chung về khu công nghiệp 2. Khái niệm khu công nghiệp Khu công nghiệp (KCN) ngày nay bắt nguồn từ lâu đời, dạng phổ biến và cổ điển nhất của nó là Cảng tự do. Cảng tự do xuất hiện ở Châu Âu từ thời Trung cổ.
Các Cảng tự do xuất hiện đầu tiên ở Châu Âu từ thế kỷ XVI, đến thế kỷ XX Cảng tự do đã lan truyền từ Châu Âu sang Châu Á, nổi lên là Hồng Kông và Singapore. Các Cảng tự do đã đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nền ngoại thương các nước. Khái niệm Cảng tự do được mở rộng, vận dụng thành loại hình mới là KCN, KCX, Khu xưởng ngoại quan, theo đó khu này không chỉ giới hạn ở tính chất ngoại quan mà còn bao gồm cả hoạt động sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu. KCN đầu tiên trên thế giới ra đời vào cuối thế kỷ XIX, được đánh dấu bằng sự ra đời của khu Traffod Park (1896) tại thành phố Manchester nước Anh.
Sau đó KCN lần lượt được thành lập ở các nước khác như Mỹ (1899), Italia (1904); và kể từ những năm 50 của thế kỷ XX thì KCN thực sự được phát triển rộng rãi ở các nước. Trong quá trình phát triển đó, KCN đem lại nhiều lợi ích thiết thực, nó được coi là công cụ để phát triển kinh tế. Hiện nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mặc dù thuật ngữ KCN được sử dụng khá phổ biến nhưng nó lại bao hàm nhiều hình thức tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau.
Theo nghĩa rộng, KCN có rất nhiều tên gọi, khái niệm và loại hình khác nhau như KCN truyền thống, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu thương mại tự do,…Tùy vào điều kiện mỗi nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau. Trên thế giới đã hình thành hai mô hình phát triển KCN mà tương ứng với nó cũng đã hình thành hai khái niệm khác nhau về KCN. 7 Khái niệm 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở,…KCN theo quan niệm này về thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu. Khái niệm 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống.
Một số nước như Malaixia, Thái Lan, Đài Loan,…đã hình thành nhiều KCN với quy mô khác nhau theo quan điểm này. Tại Việt Nam, theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế đã đưa ra các khái niệm: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. “Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này. Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể” (Khoản 1, 2 Điều 2); “Trong khu công nghiệp, khu chế xuất không có dân cư sinh sống” (Khoản 1 Điều 20).
Như vậy, quan điểm KCN ở Việt Nam được hiểu giống với Khái niệm 2.Đặc điểm khu công nghiệp Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về quy mô, địa điểm và phương thức xây dựng kết cấu hạ tầng, nhưng nói chung các KCN đều có những đặc điểm chủ yếu sau: Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh ngiệp cung cấp các dịch vụ mà không có dân cư (gọi chung là doanh nghiệp KCN). Là khu vực được quy hoạch riêng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp cũng như hoạt 8 động hỗ trợ và dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Sản phẩm của các doanh nghiệp trong KCN có thể tiêu thụ trong nước hoặc bán ra nước ngoài.
Về kết cấu hạ tầng kỹ thuật: các KCN đều xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường xá, hệ thống điện nước, điện thoại. Là khu vực kinh doanh bởi công ty hạ tầng (công ty phát triển KCN, công ty dịch vụ KCN). Công ty này có trách nhiệm bảo đảm hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong suốt thời gian tồn tại. Các Công ty phát triển kết cấu hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau đó được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại.
Về tổ chức quản lý: Trên thực tế các KCN đều thành lập hệ thống ban quản lý KCN cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN. Ngoài ra, tham gia vào quản lý ngành dọc các KCN còn có cơ quan quản lý Nhà nước như các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư; Công thương; Xây dựng;… 2. Một số yếu tố tác động đến sự phát triển khu công nghiệp Có rất nhiều yếu tố tác động tới sự hình thành và phát triển các KCN song tiêu biểu là một số yếu tố như Luật pháp, định hướng, quy hoạch phát triển các KCN, phương hướng đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, các vấn đề về lao động, về kết cấu hạ tầng xã hội ngoài hàng rào và kết cấu hạ tầng nên nếu được quản lý tốt, hướng chúng theo chiều hướng tích cực sẽ có tác dụng lớn trong việc phát triển KCN. Điều quan trọng, quyết định nhất khi xem xét thành lập các KCN là xác định được nhu cầu thành lập KCN và phải có kế hoạch vận động các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào KCN.
Thực tế cho thấy, một số KCN đã được thành lập, kể cả KCN liên doanh với nước ngoài, đã xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh đồng bộ và tương đối hiện đại song gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư, dẫn đến việc không đạt được hiệu quả, mục tiêu đặt ra. Do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân xác định không chính xác sự cần thiết và nhu cầu thành lập KCN. Do vậy, khi xem xét thành lập KCN cần cân nhắc kỹ lưỡng nhu cầu thành lập KCN, khả năng 9 kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN, coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết của việc thành lập KCN. Sự phù hợp của KCN đó với quy hoạch phát triển hệ thống KCN trong phạm vi cả nước kế hoạch phát triển ngành kinh tế kỹ thuật cũng như quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Từ đó xác định phương hướng mặt hàng, sản phẩm chủ yếu trong KCN đó có phù hợp với định hướng phát triển kinh tế kỹ thuật tương ứng hay không, hay cả định hướng tiêu thụ sản phẩm trong đó có vấn đề xuất khẩu sản phẩm. Vai trò, vị trí của KCN trong khi quyết định thành lập KCN, bao gồm việc tạo ra năng lực sản xuất mới ở địa phương, hình thành các khu dân cư mới và yêu cầu giải quyết các vấn đề phát sinh. Việc thành lập các KCN phải phù hợp với định hướng phát triển công nghệ của các ngành kinh tế, kỹ thuật kể cả áp dụng công nghệ kỹ thuật cao, hiện đại với một số ngành mũi nhọn. Các dự án thành lập, các KCN cần thể hiện đầy đủ yêu cầu và giải pháp khả thi trong việc phát triển và kinh doanh kết cấu hạ tầng, trước hết là hạ tầng kỹ thuật như giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc và xử lý chất thải,.
Vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế Đầu tư phát triển KCN đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng, của cả nước nói chung. Một số đóng góp chủ yếu như sau: Thứ nhất, tăng cường khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các nước đang ở thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đều gặp phải tình trạng thiếu vốn. Thông qua những ưu đãi đặc biệt, các KCN có được môi trường đầu tư hấp dẫn, do đó nó có khả năng thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là FDI.
Các doanh nghiệp hoạt động trong KCN phần lớn là các đơn vị tiềm năng, hoạt động hiệu quả, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước và góp phần vào việc thúc đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, việc thu hút vốn đầu tư phát triển theo quy hoạch KCN và định hướng phát triển kinh tế của tỉnh, 10 của cả nước giúp đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải gây lãng phí vốn, tài nguyên đất và ảnh hưởng môi trường. Thứ hai, tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi phương thức quản lý mới, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động. Để tránh tụt hậu về kinh tế, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế thì các nước đang phát triển phải nhanh chóng phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực quản lý.
Thu hút đầu tư nước ngoài là một trong những biện pháp để đạt được mục tiêu đó. Theo sự phân công và hợp tác sản xuất thì các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài sẽ hợp tác với nhau trong việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.