CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1. Lý luận chung về khu công nghiệp 1. Khái niệm khu công nghiệp 1. Sự hình thành khu công nghiệp Lịch sử hình thành KCN trên thế giới: KCN đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1896 ở Trafford Park thành phố Manchester (Anh) với tư cách là một doanh nghiệp tư nhân.
Sau đó vào năm 1899 vùng công nghiệp Clearing ở thành phố Chicago, bang Illinois bắt đầu hoạt động và được coi là KCN đầu tiên của Mỹ. Đến năm 1959 ở Mỹ đã có 452 vùng công nghiệp và 1.000 KCN cho đến năm 1970 đã tăng khoảng 1.400 KCN, cũng trong thời kỳ này ở Anh có 55 KCN (1959), Pháp có 230 vùng công nghiệp và Canada có 21 vùng công nghiệp (1965). KCN đầu tiên ở các nước Châu Á được khai sinh ở Singapore vào năm 1951, đến năm 1954 Malaysia cũng bắt đầu thành lập KCN cho đến giữa thập kỷ 90 đã có 139 KCN, Ấn Độ bắt đầu thành lập KCN từ năm 1955 đến năm 1979 đã có 705 KCN. Lịch sử hình thành KCN ở Việt Nam: Tiền thân phát triển các KCN ở Việt Nam là khu kỹ nghệ Biên Hoà (nay là KCN Biên Hoà I) được thành lập năm 1963 đây cũng là KCN lớn nhất và phát triển nhất sau ngày miền Nam giải phóng 1975.
Miền Bắc cũng đã bước đầu xây dựng nhiều khu liên hợp, điển hình là KCN gang thép Thái Nguyên. Ngày 24 tháng 9 năm 1991 Chính phủ chấp thuận chủ trương, Ủy Ban Nhà Nước về hợp tác và đầu tư đã cấp phép số 245 thành lập KCX 4 5 Tân Thuận, việc ra đời của KCX là một bước đột phá gắn liền với ý chí quyết tâm đổi mới tư duy, sáng tạo luôn tìm tòi cái mới cho công cuộc phát triển đất nước. Từ khi có quy chế Khu chế xuất đầu tiên từ năm 1991 đến năm 1992 Khu chế xuất Tân Thuận (Thành phố Hồ Chí Minh) đi vào hoạt động. Hệ thống KCN ở nước ta gồm nhiều loại hình, đa dạng về qui mô, tính chất và trình độ hiện đại.
Đến nay các KCN, KCX, KCNC đã và đang làm thay đổi cơ bản đời sống kinh tế xã hội, những khu vực trước đây còn là những vùng hoang hoá nay trở thành những vùng công nghiệp, vùng sản xuất hàng hoá phát triển, những trung tâm văn hoá ngang tầm với các nước trong khu vực. Các KCN Việt Nam hình thành muộn hơn so với các nước trong khu vực và thế giới do đó chúng ta có lợi thế học hỏi được kinh nghiệm của các nước đi trước. Khái niệm khu công nghiệp ở Việt Nam Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá VII năm 1994 đã nhấn mạnh vai trò của quy hoạch các khu công nghiệp: “Quy hoạch các vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm: các Khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt, khu công nghiệp tập trung”. Ngày 28/12/1994, Chính phủ đã ban hành quy chế KCN.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 quy định mô hình KCN, KCX và ban hành Quy chế KCN, KCX, KCNC. Quy chế này quy định một số điểm chính sau: - Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập KCN, KCX, KCNC. - KCN có thể có doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu. - Quy định chức năng, nhiệm vụ của các Bộ ngành liên quan, UBND cấp tỉnh và Ban quản lý các KCN cấp tỉnh.
Theo đó Ban quản lý các KCN cấp tỉnh được các Bộ, ngành liên quan uỷ quyền thực hiện một số chức năng quản 5 6 lý nhà nước: cấp phép đầu tư, xét duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu, thẩm định thiết kế kỹ thuật công trình,… Ngoài các quy chế, quy định chung về KCN, một số địa phương căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương đã ban hành những ưu đãi riêng biệt đối với các dự án đầu tư vào KCN trên địa bàn như: mức ưu đãi về thuế, tăng thời gian giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuê đất và các phí, lệ phí khác… Về vấn đề quy hoạch phát triển các KCN do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp quyết định. Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 3 năm 2008 Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Điều kiện thành lập khu công nghiệp: 1. Phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp đã được phê duyệt; 2.
Tổng diện tích đất công nghiệp của các khu công nghiệp đã được thành lập trên địa bàn lãnh thổ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cho các dự án đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư thuê đất, thuê lại đất ít nhất là 60%. Trình tự thành lập, mở rộng khu công nghiệp: 1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư; 2. Quyết định thành lập, mở rộng khu công nghiệp.
Cũng theo nghị định 29/2008/NĐ-CP, Ban Quản lý là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính 6 7 công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp, khu kinh tế. Ban Quản lý do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quy định khác); chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực có liên quan; có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong công tác quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế. Vai trò của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế 1. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế các địa phương theo hướng CNH - HĐH, đóng góp ngày càng lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là một trong những vai trò hàng đầu và cũng là mục tiêu phát triển các KCN. Nếu như trước đây, các đơn vị sản xuất công nghiệp hình thành một cách manh mún, chưa có tổ chức. Điều đó không chỉ tạo khó khăn trong việc quản lý, quy hoạch mà còn không tạo được đà trong quá trình phát triển, không xem xét đến sự ảnh hưởng chung như đầu ra của sản phẩm, môi trường, xã hội. Việc quy hoạch các đơn vị đó thành các KCN, có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, các KCN đã và đang tạo ra một lượng sản phẩm lớn, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng GDP.
Các KCN đã và đang tạo nhân tố chủ yếu trong việc tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch, tăng khả năng thu hút đầu tư, đẩy mạnh nguồn hàng xuất khẩu, tạo việc làm và hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra. Chính sự phát triển các KCN cũng đã thúc đẩy việc phát triển các đô thị mới, phát triển các cơ sở phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội chung. 7 8 Vai trò quan trọng của các KCN trong quá trình CNH - HĐH đã được thể hiện rõ trong sự đóng góp của các KCN trong việc tạo tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (khối lượng vốn đầu tư cho công nghiệp, giá trị doanh thu và xuất khẩu của các KCN, số việc làm tạo ra, trình độ công nghệ và kinh nghiệm quản lý), tạo nên một số ngành công nghiệp có năng lực cạnh tranh, một vài ngành công nghệ cao cũng như sự chuyển giao công nghệ tiên tiến hơn, kỹ năng quản lý và tiếp thị, đào tạo tay nghề cho người lao động (kể cả tâm lý xã hội và phong cách lao động công nghiệp - một yếu tố không nhỏ trong quá trình phát triển). Nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hóa cách thức quản lý sản xuất và tay nghề của người công nhân.
KCN là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng. Đây chính là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài. Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam. Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Cùng với dòng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuật cao. Góp sức đào tạo đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan tỏa và nâng trình độ tay nghề của đội ngũ lao động lên một bước. Một lượng đáng kể người lao động trong nước sẽ đảm nhận 8 9 các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự.
Việc được trực tiếp làm việc trong môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện được những kỹ năng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động trong nước thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại.