CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm KCN Khu công nghiệp (KCN) đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Tuy đã phát triển một thời gian khá dài nhưng những cuộc tranh luận về khái niệm KCN đang diễn ra sôi nổi và chưa thể chấm dứt khi chưa có sự thống nhất về cách tiếp cận vấn đề.
Theo quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định số 29/CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ có đưa ra định nghĩa về KCN như sau: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. Trong KCN có khu chế xuất.” Như vậy, có thể hiểu KCN là một tổ chức không gian kinh tế xã hội rộng lớn và được xác định giới hạn nhất định, trong đó có điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kinh tế xã hội) nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư phát triển các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp. Đặc điểm KCN KCN và KCX là công cụ để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn trong đầu tư nước ngoài để tạo ra năng lực sản xuất mới, hiện đại đáp ứng nhu cầu Luan van 7 về hàng hóa của thị trường trong nước và quốc tế. Với cơ cấu được hình thành trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, KCN, KCX bao gồm những đặc điểm chủ yếu sau: • KCN có cơ sở kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư sử dụng phạm vi đất đai nhất định trong KCN để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở kinh tế, dịch vụ ưu đãi về thủ tục xin thuê đất; miễn hoặc giảm thuế.
• Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường. Bởi vậy, cơ chế quản lý trong KCN lấy điều tiết thị trường làm chính. • KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn là một vương quốc độc lập như KCX. Do vậy, các chế độ quản lý hành chính, các quyết định liên quan đến việc ra vào KCN và quan hệ với các doanh nghiệp bên ngoài sẽ rộng rãi hơn.
Hoạt động trong KCN sẽ là tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo điều kiện bình đẳng. • KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn trong nước. • Việc hình thành các KCN tạo nên sự thay đổi một cách căn bản về hạ tầng kinh tế - xã hội trong và ngoài KCN, là cơ sở hạ tầng đô thị công nghiệp và thành phố công nghiệp trong tương lai. • Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập nâng cao phúc lợi xã hội góp phần tạo ra hiệu quả kinh tế- xã hội cho khu vực có KCN.
• Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ hỗ trợ sản xuất Luan van 8 và xuất khẩu trong KCN là những doanh nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Phân loại KCN Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận để phân loại KCN, nhưng hiện nay phân loại khu công nghiệp chủ yếu để phục vụ công tác nghiên cứu và thực thi các chính sách ưu tiên, ưu đãi là chính; còn trong lĩnh vực cơ quan nhà nước, tổ chức đời sống xã hội, xây dựng cấu trúc hạ tầng cơ sở, cấu trúc ngành nghề thì việc phân loại chưa có tác động riêng biệt. • Theo tính chất ngành nghề thì KCN chia thành 4 loại: KCN chuyên ngành, KCN đa ngành, KCN sinh thái và KCN hỗn hợp. • Theo đặc điểm quản lý: có 3 loại KCN: KCN tập trung, KCN chế xuất (KCX) và khu công nghệ cao.
• Theo cấp quản lý: nếu căn cứ vào cấp quản lý thì có thể phân KCN thành: KCN do Chính phủ quyết định thành lập KCN do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định thành lập KCN do ủy ban nhân dân huyện, thị quyết định thành lập. • Theo quy mô diện tích các KCN: 3 loại: nhỏ, trung bình và lớn. Cách phân loại này phụ thuộc vào đặc điểm của từng nước, chủ yếu phục vụ để xếp hạng KCN • Theo hình thức thành lập, KCN nâng cấp mở rộng và KCN di dời tập trung. VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KCN 1.1 PTBV KCN là đầu mối quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong nước, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Cùng với việc thu hút nguồn đầu tư vốn nước ngoài, với thuận lợi về vị Luan van 9 trí, ưu đãi về chính sách và cơ chế, KCN còn khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư trong nước – một nguồn vốn tiềm tàng trong dân chúng có ý nghĩa rất quan trọng và cũng là nguồn vốn rất lớn chưa được khai thác sử dụng một cách thích đáng.
KCN sẽ tạo ra môi trường và cơ hội phát huy năng lực về vốn sản xuất kinh doanh trong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Thông qua việc liên doanh, liên kết, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội để tiếp thu kinh nghiệm quản lý, trình độ điều hành các trang thiết bị, công nghệ hiện đại của nước ngoài. Như vậy, có thể khẳng định PTBV KCN đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước một cách ổn định, lâu dài để phát triển kinh tế - xã hội. PTBV KCN góp phần tạo công ăn việc làm xóa đói giảm nghèo Sự phát triển bền vững của KCN đã giải quyết phần lớn tình trạng thất nghiệp ở các nước đang phát triển.
Nguyên nhân là việc xây dựng các xí nghiệp sản xuất cũng như dịch vụ hỗ trợ bên ngoài KCN đã giải quyết được số lao động khá lớn. Thực tế đã cho thấy tại các nước đang phát triển có KCN thì tỷ lệ thất nghiệp ngày càng giảm. Ngoài việc tạo ra một số lượng chỗ làm trong và ngoài KCN có thu nhập tương đối ổn định, KCN còn góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ địa phương, kích thích sản xuất kinh doanh trên địa bàn nước sở tại và từ đó tạo ra nhiều việc làm mới.Tạo việc làm đồng nghĩa với tạo thu nhập cho người lao động, vì phần lớn lao động thu hút vào làm việc trong KCN là lao động chưa qua đào tạo và bộ phận không nhỏ từ khu vực nông thôn. Như vậy, để phát triển bền vững KCN không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm mà còn góp phần đáng kể vào việc xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập ổn định đời sống cho người lao động.
Nâng cao năng lực công nghệ quốc gia và chất lượng nguồn nhân lực Cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và hoạt động sản xuất tập trung trong một địa bàn tương đối thuận lợi với nhiều cơ chế chính sách ưu đãi đặc thù, các doanh nghiệp trong KCN và KCX đã tiếp nhận nhiều công nghệ tiên tiến hiện đại trên thế giới để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, tại các doanh nghiệp trong KCN đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành thành thạo các thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan tỏa và nâng cao trình độ tay nghề của đội ngũ lao động địa phương lên một bước. Hiện tại, một lượng lớn người lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với các phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại; các kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự. việc trực tiếp làm việc trong môi trường kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao đã được rèn luyện được những kỹ năng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến và hiện đại.
Theo thống kê ở Việt Nam nhìn chung các doanh nghiệp trong KCN và KCX có các thiết bị và trình độ công nghệ tiên tiến hiện đại hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Nhiều công nghệ truyền thống được nâng cấp về mặt kỹ thuật và trang bị trước khi đưa vào sản xuất sản phẩm, nhiều công nghệ mới như công nghệ chế tạo sản phẩm cơ khí chính xác, điện tử. những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém đã được chuyển giao và sử dụng ở các doanh nghiệp trong KCN. Thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa Phát triển bền vững KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành Luan van 11 các doanh nghiệp công nghiệp mới trên địa bàn địa phương góp phần tăng trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công nghiệp, về mặt lượng đương nhiên KCN góp phần nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng GDP của các ngành kinh tế tạo ra trên cả nước. Nhưng quan trọng hơn, về mặt chất các KCN đã thu hút được những dự án có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao như: dầu khí, ô tô, xe máy, dụng cụ văn phòng; cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng. Mặc dù những dự án này còn ít (chiếm khoảng 5-10% tổng số dự án) nhưng đã góp phần phát triển những ngành nghề mới, đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề công nghiệp, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong công nghiệp. Phát triển bền vững các KCN góp phần phát triển các ngành dịch vụ công nghiệp cũng như dịch vụ tư vấn, thiết kế xây dựng, bảo hiểm, tài chính, bưu chính viễn thông, giáo dục, y tế.
Đây là những ngành dịch vụ có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế và có giá trị gi tăng khá đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.