Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về ĐTPT KCHT bằng NVNS Chương 3: Thực trạng ĐTPT KCHT bằng NVNS huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2016 Chương 4: Định hướng và các giải pháp về ĐTPT KCHT bằng NVNS huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa 1 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN 2. Kết cấu hạ tầng 2. Khái niệm kết cấu hạ tầng KCHT là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng la-tinh là “Infrastructura” là thuật ngữ ghép của hai từ “Infra” (nghĩa là cơ sở, nền móng, nền tảng, phần dưới, hay còn gọi là “hạ tầng”) và “Structura” (có nghĩa là kết cấu, cấu trúc hay kiến trúc). KCHT được hiểu là nền tảng vật chất giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển c KTXH của quốc gia, cũng như vùng lãnh thổ.
ất nhiều quan niệ .TS Nguyễn Ngọ ổng thể các ngành KT, các ngành công nghệ dịch vụ ồm: Việc xây dựng đường, sân bay, kho tàng, cầu cống, bãi cảng, cơ sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu điện, cơ sở cấp thoát nước, các cơ sở khoa học, giáo dục, y tế, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ ại cho rằng, CSHT là “Hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Quan niệm này chỉ rõ, CSHT bao gồm: Hệ thống cung cấp năng lượng, giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp nước tưới tiêu và phòng chống lụt bão, cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho người lao động như y tế, giáo dục,.TS Đỗ Hoài Nam và TS Lê Cao Đoàn thì CSHT “Là khái niệm dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện”. Ở góc độ khái quát hơn, tác giả Lê Du Phong lại cho rằng KCHT là “Tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất - kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động KT - XH. Như vậy, hiểu một cách khái quát, KCHT được dùng để chỉ những phương tiện, thiết chế và tổ chức làm nền tảng cho KTXH phát triển.
2 Trong điều kiện hiện nay, KCHT là bộ phận đặc thù cho cơ sở vật chất kỹ thuật của nền KT quốc dân có nhiệm vụ và chức năng cơ bản là đảm bảo những điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, theo tác giả: KCHT là tổng thể cơ sở vật chất, dịch vụ, kỹ thuật, thông tin và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho hoạt động KTXH được diễn ra một cách bình thường của một vùng hoặc một quốc gia nhất định. Phân loại kết cấu hạ tầng KCHT là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ phát triển KT, văn hóa, XH trên địa bàn. Bất kỳ khu vực nào muốn phát triển nhanh, bền vững đều cần phải có một hệ thống KCHT hoàn chỉnh và đồng bộ.
Tương ứng với mọi lĩnh vực hoạt động của XH, có một loại CSHT tương ứng, chuyên dùng: “Hạ tầng trong KT phục vụ cho hoạt động KT; hạ tầng lĩnh vực hoạt động văn hoá, XH, phục vụ cho hoạt động văn hoá, XH. Nhưng có loại hạ tầng đa năng, phục vụ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, ví dụ như: hệ thống hạ tầng thuộc lĩnh vực cung cấp điện năng; giao thông vận tải, thuỷ lợi, thông tin… là những hệ thống hạ tầng không chỉ phục vụ cho hoạt động KT mà còn phục vụ dân sinh và các hoạt động văn hoá, XH khác. Tính chất tổng hợp này của CSHT được phản ánh trong khái niệm CSHT KTXH. Khái niệm này dùng để chỉ hạ tầng chuyên phục vụ hoạt động KT và hoạt động văn hoá, XH, phục vụ cho phát triển KTXH.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả phân loại KCHT thành: Một là, KCHT - liên huyện, liên xã, liên thôn, .); hệ nghề, chợ. 3 Hai là, KCHT ,. Vai trò của kết cấu hạ tầng “KCHT là nền tảng vật chất giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KTXH của quốc gia cũng như mỗi vùng lãnh thổ. KCHT đồng bộ và hiện đại thì nền KT mới có điều kiện để ổn định, tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng phát triển KCHT có tác động tích cực đến phát triển KT- XH ở cả các nước phát triển và đang phát triển.” Tác giả Phạm Thị Tuý (2006) sau khi nghiên cứu về tác động của việc phát triển KCHT đã phát hiện nêu ra các tác động quan trọng sau đây: (1) KCHT phát triển sẽ thu hút VĐT cho phát triển KT- XH; (2) KCHT phát triển là điều kiện để phát triển các vùng KT trọng điểm, từ đó tạo ra tác động lan toả tới các vùng liền kề phát triển; (3) KCHT phát triển tạo điều kiện cải thiện hạ tầng, cải thiện điều kiện sống của người dân. (4) Đầu tư cho KCHT, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn, sẽ có tác động tích cực nhất đối với giảm nghèo; và phát triển KCHT tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức, cải thiện tình trạng sức khoẻ người dân, góp phần giảm thiểu bất bình đẳng giàu - nghèo trong xã hội. “Tóm lại, KCHT giữ trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển KT- XH của quốc gia, tạo động lực cho phát triển. Hệ thống KCHT phát triển hiện đại, đồng bộ sẽ thúc đẩy tăng trưởng KT, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền KT và góp phần giải quyết các vấn đề XH.2 Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách cấp huyện 2.1 Khái niệm và đặc điểm đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách cấp huyện ĐTPT KCHT bằng NVNS cấp huyện là hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn NSNN do huyện quản lý nhằm duy trì và gia tăng các cơ sở vật chất, dịch vụ, kỹ thuật, kiến trúc, thông tin đóng vai trò nền tảng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KTXH của một huyện nhất định.
Chi ĐTPT KCHT từ NVNSNN là những khoản chi lớn. Nó phụ thuộc vào cân đối NS của địa phương và chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như: tư duy, nhận định, đầu tư theo phong trào, không xác định được kết quả đầu ra điều này dễ dẫn đến VĐT dàn trải, manh mún. ĐTPT KCHT bằng NVNS NN cấp huyện có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, ĐTPT từ NVNS cấp huyện là sử dụng nguồn vốn của ngân sách huyện để tiến hành các hoạt động ĐTPT. Do đó, huyện trực tiếp quản lý việc sử dụng và phân bổ các nguồn vốn và quản lý tất cả các khâu của quá trình quản lý và xây dựng.
Nếu đối với các nguồn vốn khác (FDI, nguồn vốn của khu vực TN) do chủ đầu tư tự quyết định quy trình quản lý, sử dụng vốn, còn đối với ĐTPT từ NVNS thì do NN quyết định nhằm thực hiện quản lý tất cả các khâu của quá trình đầu tư bao gồm: xác định nhu cầu đầu tư, lập và phế duyệt kế hoạch, phân bổ VĐT, thanh tuyết toán. Thứ hai, các công trình KCHT KTXH mang tính XH hóa cao, có nhiều đặc tính của hàng hóa công cộng, khó thu hồi vốn. ĐTPT từ NVNS do huyện quản lý chủ yếu là đầu tư vào các công trình KCHT KTXH của địa phương không có khả năng thu hồi vốn, thu hồi vốn chậm và không hoàn trả trực tiếp. ĐTPT từ NVNS tác động rất lớn đến việc thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển KTXH của địa phương: góp phần phát triển KCHT KTXH của địa phương, thúc đẩy đầu tư từ nguồn vốn khác, phát triển KHCN, nguồn nhân lực của địa phương, thúc đẩy đầu tư xây dựng nông thôn mới nhưng những công trình này 5 lại không có khả năng hoàn trả trực tiếp nên việc tính toán hiệu quả đầu tư của các công trình này rất phức tạp.
Thứ ba, hệ thống các công trình KCHT bằng NVNS NN mang tính kỹ thuật cao, quy mô lớn, hệ thống, đồng bộ nó không chỉ đáp ứng nhu cầu sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người trong hiện tại và cả trong tương lai. Các công trình này được xây dựng để đáp ứng các mục tiêu phát triển của huyện trong thời gian dài. Do đó, quá trình triển khai xây dựng các công trình giữa các địa phương với nhau, trong từng địa phương cụ thể và giữa các bộ phận cấu thành KCHT được xây dựng, tạo thành một hệ thống liên hoàn, đồng bộ, cùng thực hiện mục tiêu của dất nước, địa phương, vùng. Trong điều kiện chưa thể triển khai cùng lúc các công trình, các địa phương luôn tính toán đến các phương án dự trù cho các công trình xây dựng sau đó để đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ.
“Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình KCHT trên lãnh thổ là rất lâu dài. Vì thế, những sai lầm trong bố trí địa điểm, áp dụng công nghệ sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu ĐTPT KCHT bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng, địa phương và dự kiến những biến động trong tương lai”. Việc xác định xu thế phát triển, những yếu tố về kỹ thuật, khoa học công nghệ để đảm bảo các công trình hạ tầng không nhanh bị lạc hậu và dễ dàng HĐH là rất quan trọng, điều này đảm bảo hiệu quả lâu dài của công trình hạ tầng và tiết kiệm đầu tư.
Thứ tư, ĐTPT KCHT từ NVNS có ý nghĩa là “vốn mồi”, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào các ngành, lĩnh vực theo định hướng của các địa phương trong từng thời kỳ. Nguồn vốn ngân sách cấp huyện đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Theo Luật NS (2015), NSNN là “toàn bộ các khoản thu, chi của NN được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan NN có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN”. 6 Theo Luật Ngân sách (2015), tại điều 37 nêu rõ nguồn thu của NS địa phương bao gồm: Các khoản thu ngân sách địa phương gồm:“1.