Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN Những lý luận cơ bản về vốn ngân sách nhà nước Khái niệm vốn NSNN - Vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn được huy động chủ yếu từ nguồn thu từ thuế và các loại phí, lệ phí. Vốn NSNN thường được gọi là vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sách cấp tỉnh, vốn ngân sách cấp huyện, xã…( Ngân sách Trung ương và ngân sách Địa phương)[1] - Vốn NSNN là nguồn vốn Nhà nước chủ động điều hành, đầu tư các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển then chốt của nền kinh tế, những dự án khó có khả năng thu hồi lại vốn hoặc thời gian thu hồi vốn lâu, những lĩnh vực mà tư nhân hoặc doanh nghiệp không muốn hoặc không thể đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực sau: + Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đường giao thông, hạ tầng đô thị, các công trình văn hóa, giáo dục… + Đầu tư các dự án sự nghiệp kinh tế như: Sự nghiệp giao thông, duy tu, bảo dưỡng, sữa chữa cầu đường Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi như: duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, kênh mương, các công trình thủy lợi… Sự nghiệp thị chính: duy tu, bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước… + Đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vự cần thiết cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật. - Nguồn vốn ngân sách nói chung được tập hợp từ các nguồn vốn trên địa bàn như: + Vốn ngân sách Trung ương đầu tư qua các bộ, ngành trên địa bàn + Vốn ngân sách Trung ương cân đối hoặc ủy quyền qua ngân sách địa phương ( xây dựng cơ bản tập trung, vốn chương trình quốc gia…) SVTH: Nguyễn Thị Phượng 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Lê Hiệp + Vốn ngân sách từ các nguồn thu của địa phương được giữ lại ( cấp quyền sử dụng đất, xổ số, bán nhà thuộc sở hữu nhà nước…) Vai trò của vốn NSNN đối với phát triển cơ sở hạ tầng GTNT - Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn đầu tư cơ bản và quan trọng nhất để đầu tư phát triển CSHT như: bưu điện, thông tin liên lạc, đặc biệt là hệ thống giao thông ở nông thôn…Các công trình này là những công trình công cộng đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn dài hoặc khó thu hồi vốn và lợi nhuận thấp. Do vậy, các nhà đầu tư e ngại, không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Thực tế, việc tham gia đầu tư từ các nguồn vốn ngoài NSNN là quá ít, để đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu phát triển đất nước, Nhà nước phải sử dụng vốn đầu tư cho phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng. - Ngoài ra, vốn ngân sách còn có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khơi dậy các nguồn vốn khác còn tiềm ẩn đặc biệt là vốn trong dân cư.
Vốn ngân sách như là “vốn mồi”, vốn chỉ hỗ trợ một phần như: chi để lập các dự án, các quy hoạch cần thiết để nhân dân và các tổ chức kinh tế khác đưa vốn vào đầu tư phát triển; vốn ngân sách hỗ trợ một phần làm đường ngõ xóm…phần còn lại cộng đồng dân cư tự đóng góp và quản lý sử dụng. Hình thức này được áp dụng phổ biến, rộng rãi ở các nước đang phát triển. Mặc dù, vốn nhà nước chỉ đóng góp một phần nhưng nhờ đó mà các công trình được tiến hành, hoàn thành và nâng cao cơ sở hạ tầng ở các địa phương. Lý luận chung về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Cơ sở hạ tầng Thuật ngữ cơ sở hạ tầng được sử dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực quân sự.
sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: giao thông, kiến trúc, xây dựng…Đó là những cơ sở vật chất kỹ thuật được hình thành theo một “kết cấu” nhất định và đóng vai trò “nền tảng” cho các hoạt động diễn ra trong đó. Với ý nghĩa đó, thuật ngữ cơ sở hạ tầng được mở rộng ra cả các lĩnh vực hoạt động có tính chất xã hội để chỉ các cơ sở trường học, bệnh viện, văn hóa…phục vụ cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa… SVTH: Nguyễn Thị Phượng 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp Như vậy, cơ sở hạ tầng là tổng thể các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế xã hội được diễn ra một cách bình thường. Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm: cơ sở hạ tầng kinh tế và cơ sở hạ tầng xã hội: - Cơ sở hạ tầng kinh tế là những công trình phục vụ sản xuất như bến cảng, giao thông, điện, sân bay… - Cơ sở hạ tầng xã hội là toàn bộ các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho hoạt động văn hóa, nâng cao dân trí, văn hóa tinh thần của dân cư như trường học, trạm xá, bệnh viện, công viên, các nơi vui chơi giải trí… Cơ sở hạ tầng nông thôn Cơ sở hạ tầng nông thôn là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ thuật nền kinh tế quốc dân.
Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất – kỹ thuật được tạo lập, phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực này và trong lĩnh vực nông nghiệp. Nội dung tổng quát của cơ sở hạ tầng nông thôn có thể bao gồm những hệ thống cấu trúc, thiết bị và công trình chủ yếu sau: - Hệ thống và các công trình thủy lợi, thủy nông, phòng chống thiên tai, bảo vệ và cải tạo đất đai, tài nguyên, môi trường trong nông nghiệp nông thôn như: đê điều, cầu cống, kênh mương thủy lợi, các trạm bơm… - Các hệ thống và công trình giao thông vận tải trong nông thôn: cầu cống, đường xá, kho tàng, bến bãi phục vụ trực tiếp cho việc vận chuyển hàng hóa, giao lưu đi lại của dân cư. - Mạng lưới và thiết bị phân phối, cung cấp điện, mạng lưới thông tin liên lạc… - Những công trình xử lý, khai thác và cung cấp nước sạch sinh hoạt cho dân cư nông thôn. - Mạng lưới và cơ sở thương nghiệp, dịch vụ cung ứng vật tư, nguyên vật liệu…và chủ yếu là những công trình chợ búa và tụ điểm giao lưu buôn bán.
- Cơ sở nghiên cứu khoa học, thực hiện và chuyển giao công nghệ kỹ thuật; trạm sản xuất và cung ứng giống vật nuôi vây trồng. SVTH: Nguyễn Thị Phượng 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp Nội dung của cơ sở hạ tầng trong nông thôn cũng như sự phân bố, cấu trúc trình độ phát triển của nó có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, quốc gia, cũng như giữa các địa phương, vùng lãnh thổ của đất nước. Tại các nước phát triển, CSHT nông thôn còn bao gồm cả các hệ thống, công trình cung cấp gas, khí đốt, xử lý và làm sạch nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp, cung cấp cho nông dân nghiệp vụ khuyến nông.
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn CSHT GTNT là một bộ phận của CSHT nông thôn, bao gồm CSHT đường sông, đường mòn, đường đất phục vụ sự đi lại trong nội bộ nông thôn, nhằm phát triển sản xuất và giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội của các làng xã, thôn xóm. Hệ thống này nhằm đảm bảo cho các phương tiện cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại. Hệ thống GTNT bao gồm: cơ sở hạ tầng GTNT, phương tiện vận tải và người sử dụng. Như vậy, cơ sở hạ tầng GTNT chỉ là một bộ phận của hệ thống GTNT.
Giao thông nông thôn không chỉ là sự di chuyển của người dân nông thôn và hàng hóa của họ, mà còn là các phương tiện để cung cấp đầu vào sản xuất và các dịch vụ hỗ trợ cho khu vực nông thôn của các thành phần kinh tế quốc doanh và tư nhân. Đối tượng hưởng lợi ích trực tiếp của hệ thống GTNT sau khi xây dựng mới, nâng cấp là người dân nông thôn, bao gồm những người có nhu cầu và ưu tiên đi lại khác nhau như nông dân, doanh nhân, những người không có ruộng đất, cán bộ, công nhân viên các đơn vị phục vụ công cộng làm việc ở nông thôn… Hệ thống CSHT GTNT bao gồm: - Mạng lưới đường GTNT: đường huyện, đường xã và đường thôn xóm, cầu cống, phà trên tuyến; - Đường sông và các công trình trên bờ; - Các cơ sở hạ tầng giao thông ở mức độ thấp (các tuyến đường mòn, đường đất và các cầu cống không cho xe cơ giới đi lại mà chỉ cho phép người đi bộ, xe đạp…đi lại). Các đường mòn và đường nhỏ cho người đi bộ, xe đạp, xe thồ, xe máy và đôi khi cho xe lớn hơn, có tốc độ thấp đi lại là một phần mạng lưới giao thông, giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa đi lại của người dân. SVTH: Nguyễn Thị Phượng 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Lê Hiệp Đặc điểm của CSHT GTNT Tính hệ thống, đồng bộ CSHT GTNT là một hệ thống cấu trúc phức tạp phân bố trên toàn lãnh thổ, trong đó có những bộ phận có mức độ và phạm vi ảnh hưởng cao cấp khác nhau tới sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nông thôn, của vùng và làng xã. Tuy vậy, các bộ phận này có mối quan hệ gắn kết với nhau trong quá trình hoạt động, khai thác và sử dụng. Do vậy, việc quy hoạch tổng thể phát triển CSHT GTNT, phối hợp giữa các bộ phận trong hệ thống đồng bộ, sẽ giảm tối đa chi phí và tăng tối đa công dụng của các CSHT GTNT cả trong xây dựng cũng như trong quá trình vận hành, sử dụng. Tính chất đồng bộ, hợp lý trong việc phối kết hợp các yếu tố hạ tầng giao thông không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà còn có ý nghĩa về xã hội và nhân văn.
Các công trình giao thông thường là các công trình lớn, chiếm chỗ trong không gian.