CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đầu tư và thu hút đầu tư 1. Khái niệm về đầu tư và thu hút đầu tư Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đầu tư. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau thì sẽ có các khái niệm về đầu tư khác nhau.
Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng: “Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận”. “Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó mua quyền để được hưởng các lợi ích trong tương lai mà người đó hi vọng có được qua việc bán sản phẩm mà tài sản đó tạo ra. Quan niệm này đã nói lên kết quả đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị. [14] Nhà kinh tế học P.A Samuelson cho rằng: “Đầu tư là hoạt động tạoo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho.
Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn lực, nghiên cứu, phát minh,.” [14] Theo lĩnh vực kinh tế, đầu tư là sự bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm mục đích tạo ra sản phẩm cho xã hội và sinh lợi cho chủ đầu tư. [14] Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Đầu tư 2005 định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Xét một cách đầy đủ hơn, hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kĩ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lí và xã hội nói riêng. [12] SVTH: Lê Phan Thúy Giao 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng Tóm lại, hoạt động đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tư để áp dụng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Thu hút đầu tư bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kĩ thuật xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường,.để thu hút các NĐT đầu tư vốn, KH – CN,.phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Đối với một địa phương hoặc lãnh thổ, thu hút đầu tư là các hoạt động hoặc chính sách nhằm xúc tiến, kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi cho các NĐT bỏ vốn thực hiện các dự án đầu tư, hình thành vốn sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế xã hội trên địa bàn của mình. Thu hút vốn đầu tư sẽ làm tăng sự chú ý và quan tâm của các NĐT qua sự phát triển và xúc tiến các dự án đầu tư cụ thể có thể đem lại những lợi ích thương mại cho các NĐT.
Các chính sách thu hút đầu tư là một bộ phận cấu thành cả hệ thống chính sách có ảnh hưởng quyết định đến chính sách đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời nó còn tác động chi phối các quan hệ tích luỹ, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư trong phạm vi toàn xã hội. Chính sách bao gồm: + Đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi: Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro của vốn đầu tư vượt khỏi sự kiểm soát của NĐT. + Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng: Sự phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế của một quốc gia hay một địa phương tiếp nhận đầu tư luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các NĐT có thể nhanh chóng thông qua quyết định và triển khai thực tế các dự án đầu tư đầu tư đã cam kết. Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại; một hệ thống thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe nhìn hiện đại; hệ thống điện, nước đầy đủ và phân bố thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống xã hội; một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao.
SVTH: Lê Phan Thúy Giao 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng + Phát triển đội ngũ lao động, trình độ KH – CN và hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn: Đội ngũ nhân lực có tay nghề cao là điều kiện rất quan trọng để một nước và địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp dẫn các NĐT. Việc thiếu nhân lực kĩ thuật hành nghề, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lí cao cấp, nhà doanh nghiệp tài ba và sự lạc hậu về trình độ KH – CN sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của NĐT để triển khai các dự án của họ, làm chậm và thu hẹp dòng vốn đầu tư. [11] Nội dung thu hút đầu tư bao gồm: + Công tác quy hoạch: Quy hoạch là dự báo, hoạch định phát triển trong tương lai.
Quy hoạch chính là công cụ giúp cho các nhà lãnh đạo thực hiện được các định hướng phát triển KT – XH của địa phương trong thời gian đến. + Ban hành danh mục dự án kêu gọi đầu tư: Là việc các cơ quan chức năng đưa ra danh sách tên các dự án muốn kêu gọi đầu tư theo từng ngành hoặc nhóm ngành kinh tế và qui định cụ thể về một số chỉ tiêu như quy hoạch – kiến trúc, đất đai, vốn, hình thức đầu tư, địa điểm xây dựng,.được công bố rộng rãi cho mọi người, mọi đối tượng được biết để lựa chọn đầu tư. + Phát triển cơ sở hạ tầng: Là đầu tư xây dựng các hệ thống như giao thông, cấp điện, cấp nước, cây xanh,. Cơ sở hạ tầng tốt, đồng bộ sẽ làm giảm chi phí đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh mang lại lợi nhuận cao.
+ Ban hành cơ chế chính sách: Cơ chế chính sách là hệ thống pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm khuyến khích đầu tư. + Tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư: Xúc tiến đầu tư là sử dụng các biện pháp tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu, tiếp cận, môi giới trung gian,.bằng nhiều hình thức như ấn phẩm, hội nghị, hội thảo, truyền tin, truyền hình, tổ chức gặp gỡ, qua kênh thông tin diẹnd tử,.để các NĐT có cơ hội nắm bắt được thông tin, hiểu rõ về thông tin để có sự lựa chọn và đưa ra quyết định đầu tư. Đặc điểm của đầu tư Trước hết phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, quy trình công nghệ, dịch vụ kĩ thuật, giá trị sử dụng đất, các nguồn tài nguyên khác.
Vốn SVTH: Lê Phan Thúy Giao 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư.
Thời gian đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án. Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt. Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế.
Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NĐT, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng. Phân loại đầu tư Phân loại theo thời hạn đầu tư: + Đầu tư ngắn hạn; + Đầu tư trung hạn; + Đầu tư dài hạn. Phân loại theo mục đích đầu tư, bao gồm: + Đầu tư nhằm mục đích phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách; + Đầu tư nhằm giải quyết các vấn đề xã hội; + Đầu tư nhằm nô dịch đối tượng khác. Phân loại theo lĩnh vực kinh tế, đầu tư bao gồm 6 nhóm: + Đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng; + Đầu tư vào sản xuất công nghiệp; + Đầu tư vào khai khoáng, khai thác tài nguyên; + Đầu tư vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; + Đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ - thương mại – du lịch; + Đầu tư vào lĩnh vực tài chính.
Phân loại theo nguồn vốn đầu tư: + Đầu tư bằng ngân sách Nhà nước; + Đầu tư bằng vốn tư nhân; SVTH: Lê Phan Thúy Giao 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng + Đầu tư bằng vốn cổ phần. Phân loại theo hình thức đầu tư: + Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của NĐT trong nước hoặc 100% vốn của NĐT nước ngoài. + Thành lập tổ chức kinh tế Liên doanh + Đầu tư theo các hình thức: Hợp tác kinh doanh (BCC); Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT); Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO); Xây dựng – Chuyển giao (BT).
+ Đầu tư phát triển kinh doanh. + Mua cổ phần, góp vốn trực tiếp vào các tổ chức kinh tế. + Sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. + Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
[14] Phân loại theo mức độ tham gia quản lý của các NĐT vào đối tượng bỏ vốn + Đầu tư trực tiếp: Theo Khoản 2, Điều 3 Luật Đầu tư 2005 thì “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.