CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN 1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 1. Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển 1. Khái niệm về đầu tư phát triển Khái niệm về hoạt động đầu tư và đầu tư phát triển * Hoạt động đầu tư Theo Hồ Tú Linh (2014) khái niệm hoạt động đầu tư được hiểu là: “Hoạt động đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó”.
Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài sản vật chất khác. Biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây được gọi là vốn đầu tư. Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá,.), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…) và nguồn nhân lực. Nguồn Hoạt Kết quả: Mục tiêu: lực: động: Sự gia tăng - Kinh tế f -Tiền - Tài chính trong tương - Xã hội - Của cải - Sữa chữa lai về: - Chính trị vật chất - Xây dựng - Tài sản - Văn hóa - Kĩ thuật mới , mua tài chính - Môi công nghệ sắm, lắp - Tài sản trường - TNTN đặt vật chất -Sức lao - Đào tạo Tài sản trí động và trí nguồn nhân tuệ tuệ lực.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư SVTH: Đinh Thị Thùy 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Hồ Tú Linh Đầu tư bao gồm 3 hình thức chính: Đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển.
* Đầu tư tài chính: “là loại đầu tư trong đó có tiền, bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trị trên thị trường tiền tệ, thị trường vố để hưởng lãi suất định trước hoặc lợi nhuận tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành.” Đầu tư tài chính có tính chất làm tăng thêm tài sản tài chính của chủ đầu tư. Không trực tiếp làm tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế. Hiện tượng đầu tư tài chính được xem là hiện tượng đầu tư chuyển dịch và là một kênh huy động vốn rất quan trọng của đầu tư phát triển. *Đầu tư thương mại: “là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hành hóa sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán.” Đầu tư thương mại có đặc điểm không trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, là đầu tư chyển dịch và làm tăng tài sản tài chính của chủ đầu tư trong quá trình mua đi bán lại.
Đầu tư thương mại là điều kiện quan trọng là cầu nối để thúc đẩy đầu tư phát triển. * Đầu tư phát triển: Là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới cho nền kinh tế (tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ), gia tăng sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.” Như vậy, đầu tư phát triển là hình thúc đầu tư mà trực tiếp tạo ra tài sản cho nền kinh tế còn đối với đầu tư tài chính và đầu tư thương mại thì chỉ là sự chu chuyển vốn giữa các đơn vị- đối tượng của hoạt động đầu tư. Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư. Đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội.
Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực. SVTH: Đinh Thị Thùy 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Hồ Tú Linh Đặc điểm của đầu tư phát triển Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn, nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài. Thời gian kể từ khi bắt đầu tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của công cuộc đầu tư đó phát huy tác dụng đem lại lợi ích kinh tế - xã hội thường kéo dài.
Hoạt động đầu tư thường chịu mức độ rủi ro cao vì đặc điểm vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư dài, lao động nhiều. Với tính chất lâu dài như vậy, kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và các điều kiện địa lý của không gian. Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Vai trò của đầu tư phát triển Vai trò của đầu tư phát triển đối với nền kinh tế quốc dân - Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
- Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế - Đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khi tăng đầu tư vào một ngành, một thành phần kinh tế hay một vùng nào đó sẽ làm sản lượng của ngành này, thành phần kinh tế này hay vùng này tăng lên và thay đổi mối tương quan giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế, từ đó làm cơ cấu kinh tế thay đổi theo. Như vậy chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịchcơ cấu kinh tế các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. - Đầu tư góp phần tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước. Công nghệ đóng vai trò chủ đạo trongquá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát tiển và tăng cường khả năng công SVTH: Đinh Thị Thùy 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Hồ Tú Linh nghệ, trình độ công nghệ lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam hiện nay sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra được một chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và bền vững. Đầu tư sẽ giúp trình độ khoa học ngày càng vươn xa và tiếp cận được công nghệ hiện đại từ các nước tiên tiến. Phân loại đầu tư phát triển * Phân theo nguồn vốn đầu tư trên phạm vi quốc gia: - Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước: bao gồm hoạt động đầu tuwdduwowcj tài trợ từ nguồn vốn tích lũy của ngân sách (vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, do nhà nước bảo lãnh),vốn tích lũy và huy động của daonh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư.
- Vốn nước ngoài: bao gồm các hoạt động đầu tư được thực hiện bằng các nguồn vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp nước ngoài. Cách phân loại này chỉ ra vai trò của từng nguồn vốn đối với sự phát triển kinh tế xã hội với quan điểm được thống nhất: “vốn trong nước là quyết định, vốn bên ngoài là quan trọng“ Xác định được cách quản lý khác nhau đối với các loại dự án đầu tư có nguồn vốn khác nhau. Đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển huy động nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển, tận thu ngân sách nhà nước. * Phân theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định như nhà xưởng, máy móc thết bị.
Đây là loại đầu tư dài hạn, đòi hỏi vốn lớn, thu hồi vốn lâu, có tính chất kĩ thuật phúc tạp. Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăngtheem tài sản cho các cơ sở hiện có, duy trì sự hoạt động cho các cơ sở vật chất không thuộc các doanh nghiệp như: Đầu tư vào nguyên nhiên vật liệu, lao động…Đầu tư vận hành chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư, có thể thu hồi vốn nhanh sau khi các kết quả đầu tư được đưa vào hoạt động. SVTH: Đinh Thị Thùy 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Hồ Tú Linh Vốn trong nước Phân theo nguồn vốn Vốn nước ngoài Phân theo Đầu tư cơ bản đặc điểm hoạt động Đầu tư vận hành Phân theo Đầu tư phát triển sản xuất kinh lĩnh vực doanh hoạt động Đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Đầu tư Phân theo phát triển Nhóm dự án quan trọng QG cấp quản lý Dự án nhóm A, B, C Phân theo Đầu tư ngắn hạn thời gian thực hiện Đầu tư dài hạn đầu tư Phân theo Đầu tư gián tiếp quan hệ quản lý của Đầu tư trực tiếp chủ đầu tư Đầu tư chiều rộng Phân theo cơ cấu tái sản xuất Đầu tư chiều sâu Sơ đồ 1.2: Phân loại đầu tư phát triển SVTH: Đinh Thị Thùy 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Hồ Tú Linh Đầu tư cơ bản là cơ sở nền tảng quyết định đầu tư vận hành, đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả đầu tư cơ bản phát huy tác dụng. Hai hình thức đầu tư này tương hỗ nhau cùng giúp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển.
* Phân theo lĩnh vực hoạt động Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh: bao gồm đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư vào tài sản lưu động, ngoài ra còn đầu tư vào tài sản vô hình (quảng cáo, thương hiệu…) nhằm mục đích thức đẩy hoạt động tiêu thụ, nâng cao thị phần, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận.