phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: CHƢƠNG I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị. CHƢƠNG II: Thực trạng đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị ở Thủ đô Hà Nội thời gian qua. CHƢƠNG III: Những giải pháp chủ yếu đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị ở Thủ đô Hà Nội đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐẦU TƢ CHO BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG LĨNH VỰC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ 1.
RÁC THẢI ĐÔ THỊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƢỜNG VÀ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Khái niệm về môi trƣờng Có khá nhiều định nghĩa về môi trường đang được sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy và quản lý của các quốc gia trên thế giới. Tùy theo vấn đề nghiên cứu và cách nhìn nhận khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, trong luận văn của mình, tác giả sử dụng khái niệm do Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam đưa ra, theo đó: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
Khái niệm rác thải đô thị Theo đại từ điển Tiếng Việt1 thì: “Rác là những thứ vụn vặt, vứt bỏ ra, làm bẩn các nền mặt”. Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn cũng đã định nghĩa: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh 1 Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, được Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1998 6 doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại. - Rác thải sinh hoạt là các chất thải rắn thải ra từ các hoạt động phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của con người như: chất thải từ các loại đồ ăn, các loại vỏ đựng nước uống, các phương tiện học tập, nghe nhìn, các đồ dùng sinh hoạt củ,hỏng,rác thải từ các chợ và các siêu thị.v… -Chất thải rắn công nghiệp là các chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng như:gỗ,đất đá,xi măng,sắt vụn,các loại bao bì.v Như vậy, có thể hiểu: rác thải đô thị là các chất thải rắn do các hoạt động sản xuất công nghiệp và các hoạt động phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân đô thị tạo ra.
Cũng như ở các nước trên thế giới, ở Việt Nam, rác thải đô thị phát sinh từ các hoạt động kinh doanh và sinh hoạt, chủ yếu từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, thương mại (chợ, siêu thị) và từ dân cư đô thị với thành phần hữu cơ là chủ yếu. Và theo quy luật chung, ở các đô thị lớn hơn, phát triển hơn và các khu công nghiệp tập trung hơn sẽ có lượng rác thải phát sinh cao hơn. Nguyên nhân làm gia tăng phát sinh rác thải đô thị Có thể nói, các nguyên nhân chính làm gia tăng phát sinh rác thải đô thị là do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa, do tăng dân số và do tiêu dùng ngày càng tăng gây nên. Quá trình đô thị hóa nhanh Đô thị hoá được hiểu là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển hệ thống đô thị 7 hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá kết cấu hạ tầng và tăng qui mô cũng như mật độ dân số.
Đô thị hoá kéo theo việc mở rộng địa giới hành chính, mở rộng quy mô đô thị, quy mô dân số và nâng cao mức sống, mức tiêu thụ của người dân. Rác thải đô thị là một trong những hạn chế bắt nguồn từ việc gia tăng dân số đô thị, gia tăng sản xuất công nghiệp, dịch vụ tại các đô thị do quá trình đô thị hoá tạo ra. Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển đó. Hiện nay, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên ở nước ta là khoảng 1,3%/năm.
Như vậy tính đến năm 2010, dân số Việt Nam sẽ có khoảng 89 triệu người. Tăng dân số là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng lượng rác thải đô thị. Đối với các đô thị có tốc độ đô thị hóa cao, thì dân số lại càng tăng mạnh do có thêm tăng dân số cơ học. Các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, ngoài dân số tăng do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thì chủ yếu dân số gia tăng do tăng dân số cơ học.
Thu nhập cao hơn, đời sống tốt hơn ở các khu đô thị đã là sức hút hấp dẫn đối với nhiều người dân nông thôn. Rất nhiều người dân ở các vùng nông thôn đổ ra thành thị để tìm kiếm việc làm với mong muốn đổi đời đã gây nên một sức ép lớn về dân số đối với các đô thị. Chính điều này làm cho lượng rác thải phát sinh ở những đô thị này rất lớn. Bên cạnh lượng rác thải đô thị tăng do gia tăng dân số của quá trình đô thị hóa, thì tốc độ phát triển các khu đô thị sẽ là động lực chính làm tăng lượng phát sinh chất thải.
Các khu đô thị hiện nay đang không ngừng mọc lên, không ngừng mở rộng địa giới. Đi liền với nó là các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển không ngừng đã làm phát sinh lượng rác thải đô thị lớn, Lượng rác thải phát sinh không chỉ từ các hộ gia đình, các khu chợ như ở nông thôn, mà còn phát sinh từ các siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, văn phòng, công sở cùng với việc tăng thu nhập và sức mua của các đô thị. 8 Điều đáng nói là, ở hầu hết các thành phố, trong chất thải rắn, thì chất thải rắn đô thị chiếm tới 60-70%, một số đô thị chiếm tới 90%. Theo kết quả nghiên cứu năm 2005 của Bộ Xây dựng thì lượng chất thải rắn đô thị phát sinh tăng khá đều hàng năm, trung bình từ 10-16% mỗi năm.
Trong nhiều năm tới (đến năm 2020), Việt Nam sẽ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản xuất công nghiệp dự tính duy trì mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 12-15%. Đi liền tất yếu với nó là quy mô và tốc độ đô thị hoá cũng sẽ tăng tương ứng (dự báo tỷ lệ đô thị hóa sẽ tăng từ mức hiện tại là 27,12% năm 2007 lên 33% vào năm 2010, như vậy dân số đô thị sẽ tăng thêm khoảng 10 triệu người). Vì thế, mặc dù có những cố gắng trong cải thiện tình trạng lạc hậu về công nghệ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, dù có những nổ lực trong việc đổi mới cách thức tiêu dùng của người dân, song lượng rác thải sẽ vẫn tiếp tục tăng. Có thể ước đoán mức phát thải tính trên đầu người ở Việt Nam vẫn gia tăng trên 10%/năm.
Đã có dự báo cho rằng, nếu không có giải pháp hữu hiệu giảm thiểu chất thải đô thị trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, đô thị hoá ở Việt Nam, mức gia tăng chất thải ở Việt Nam đến năm 2010 có thể tăng thêm 50-60%2. Dự báo trên là hoàn toàn có cơ sở, vì mức phát thải trung bình mỗi ngày tính trên đầu người của Việt Nam hiện còn thấp (0,9-1,2 kg) so với nhiều nước khác trong khu vực như Bangkok (Thái Lan) là 1,6 kg/người/ngày, Singapore là 2kg/người/ngày, Hồng Kông là 2,3kg/người/ngày.v… Thành phần chất thải rắn đô thị thường gồm: chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa các tông, giẻ vụn, kim loại, thuỷ tinh, gốm sứ, đất đá, gạch cát. Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải đô thị không ổn định, nó biến động theo trình độ phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của công nghiệp chế biến, và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng của người dân 2 Nguồn: VEM 2004 9 ở từng dân tộc, từng địa bàn dân cư nhất định. Tuy nhiên, tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ thường chiếm từ 40-65% tổng lượng rác thải và thành phố càng lớn lượng rác thải đô thị tăng càng nhanh.1: Khối lƣợng chất thải rắn của một số đô thị Miền Bắc giai đoạn 2000-2004 Đơn vị tính: tấn/ngày.
Năm Hà Nội Hải Phòng Nam Định Thái Lào Cai Nguyên 2000 2.768 920 160 132 88 Trung bình 1926 783 165 117 83 Nguồn: Số liệu quan trắc hàng năm của TTKTMTDDT và KCN, Đại học Xây dựng Hà Nội,và báo cáo của Bộ Xây dựng 2005 Biểu trên cho thấy tốc độ tăng lượng rác thải của Hà Nội và Hải Phòng là khá cao, chỉ sau 4 năm lượng rác thải của thành phố Hà Nội đã tăng thêm 71,8%, của thành phố Hải Phòng là 37,9%.1 Khối lƣợng chất thải rắn của một số đô thị Miền Bắc giai đoạn 2000-2004 3000 2500 Ha Noi 2000 Hai Phong Nam Dinh Luong Rac Thai Nguyen 1500 Lao Cai 1000 500 0 2000 2001 2002 2003 2004 Nam Nguồn: Số liệu quan trắc hàng năm của TTKTMTDDT và KCN, Đại học Xây dựng Hà Nội, và báo cáo của Bộ Xây dựng 2005 1. Quá trình công nghiệp hóa Trong 20 năm đổi mới vừa qua, công nghiệp luôn là khu vực được chú trọng đầu tư và có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của các ngành nông nghiệp,dịch vụ và tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân. Nói cách khác, công nghiệp luôn là ngành có đóng góp quyết định vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân và vào quá trình chuyển từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại.
Trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2005 trừ năm 1998 và năm 1999 (tốc độ tăng trưởng công nghiệp bị giảm sút do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực), trong các năm còn lại, công nghiệp luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm. Trong đó năm 1994 đạt tới 14,46%. So sánh theo các giai đoạn 5 năm, công nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm ngày càng cao.