CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC HẢI QUAN 1. Lý luận về nguồn nhân lực hải quan 1. Một số khái niệm liên quan a) Nhân lực Hiện nay trên thế giới đang tồn tại khá nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực. Nadler &Nadler cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục, đào tạo (theo nghĩa rộng) là những thuật ngữ có cùng nội hàm.
Hai tác giả này định nghĩa “phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc”. Trong khi đó, UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước. Còn theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Tại Việt Nam, đã có nhiều định nghĩa về nhân lực như sau.
Nhân lực là thể lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Thể lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động [3]. Nhân lực của một tổ chức là toàn bộ những khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức đó [11]. Nhân lực cũng có thể hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động trong một tổ chức.
Sức mạnh đó phải được kết hợp của các loại người lao động và của các nhóm yếu tố: Sức khỏe, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng. Nhân lực là nguồn lực của mỗi người, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách. 5 Thể lực của con người thể hiện sức khỏe, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay, nó phụ thuộc vào trình trạng sức khỏe, mức sống, mức thu nhập, chế độ sinh hoạt, y tế, tuổi tác hay giới tính… Trí lực của con người thể hiện khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết hay khả năng làm việc bằng trí óc của con người, nó phụ thuộc vào năng khiếu bẩm sinh, quá trình học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân. Nhân cách là những nét đặc trưng tiêu biểu của con người, được hình thành trong sự kết hợp giữa hiệu quả giáo dục và môi trường tự nhiên.[13] b) Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động (theo bộ luật lao động) và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng hoặc có tham gia lao động.
Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thể chất của người lao động, yếu tố di chuyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phương. Trong một chừng mực nào đó nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động, nhưng nói về nguồn nhân lực là nói tới chất lượng của lao động. Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân và cộng sự (2012) thì nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực có trong mỗi con người gồm có thể lực và trí lực.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quân và cộng sự (2012, trang 153) cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động”.[14] Quan điểm của các tác giả trên về phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức nhìn chung đều thiên về các hoạt động học tập mà tổ chức cung cấp cho người lao động. Nghĩa là hoạt động phát triển nguồn nhân lực sẽ chỉ xét trên góc độ phát triển chất lượng nguồn nhân lực chứ không xét đến việc tăng lên về số lượng người lao động. Từ đó có thể rút ra nội hàm khái niệm nguồn nhân lực sẽ bao gồm hai nội dung: - Số lượng nguồn nhân lực: Là tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức. 6 - Chất lượng nguồn nhân lực: Thể hiện qua các khía cạnh về thể lực và trí lực của người lao động.
c) Nguồn nhân lực hải quan Từ các khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực từ các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Quân và cộng sự và đúc kết từ những khái niệm nguồn nhân lực ở trên, có thể hiểu nguồn nhân lực hải quan bao gồm tất cả các CBCC làm việc trong tổ chức hải quan và nhân lực ở đây được hiểu là nguồn lực có trong mỗi cơ quan/ đơn vị hải quan, bao gồm trí lực và thể lực. Theo Luật Hải quan thì công chức hải quan là người có đủ điều kiện được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hải quan; được đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức [21]. Đặc điểm nguồn nhân lực trong tổ chức hải quan Theo Luật Hải quan chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn, lương, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức hải quan, hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng minh hải quan theo quy định của Chính phủ [21]. Nhân viên hải quan là CBCC nhà nước, vì vậy nguồn nhân lực hải quan mang những đặc điểm của CBCC và có các đặc điểm sau: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ngành Hải quan, nguồn nhân lực trong tổ chức hải quan là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ.
Là đội ngũ chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao với các hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp. Nguồn nhân lực trong tổ chức hải quan là tương đối ổn định mang tính kế thừa và không ngừng nâng cao về chất lượng. Nguồn nhân lực được nhà nước đảm bảo lợi ích khi thực thi công vụ. Nguồn nhân lực trong tổ chức hải quan mang những đặc điểm của quyền CBCC được quy định tại luật CBCC năm 2008 đó là được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật; Được cung cấp thông tin liên quan đến quyền hạn được giao; Được đào tạo 7 bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ; Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo Luật Hải quan các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chức hải quan, bao gồm: a) Gây phiền hà, khó khăn trong việc làm thủ tục hải quan; b) Bao che, thông đồng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế; c) Nhận hối lộ, chiếm dụng, biển thủ hàng hoá tạm giữ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mục đích vụ lợi; d) Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan. Lý luận về đào tạo nguồn nhân lực 1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Chức năng đào tạo được gọi một cách phổ biến là phát triển nguồn nhân lực, phối hợp hoạt động đào tạo và phát triển trong tổ chức. Đào tạo được các tác giả nước ngoài: Buckley và Caple (2009), Huang (2001), Hubbard (2011), Nazli, Sipon và Radzi (2014), và Rikkua và Chakrabartyb (2013) định nghĩa như là các hoạt động học tập khác nhau được tổ chức để nâng cao kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của cá nhân để nâng cao hiệu suất cá nhân của họ.
Hơn nữa, Huang (2001) cho rằng quá trình đào tạo bao gồm các giai đoạn cụ thể, chẳng hạn như điều tra và xác định các nhu cầu đào tạo, thiết kế kế hoạch đào tạo, xây dựng mục tiêu đào tạo, lựa chọn phương pháp đào tạo, thực hiện các chương trình đào tạo, đánh giá kết quả đào tạo và lập hồ sơ đào tạo. Theo Bramley (1996) đào tạo nên được xem như là một quá trình có hệ thống; Nó tập trung vào việc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hành vi thái độ cho nhân viên; Nó được thực hiện để cải thiện hiệu suất của người lao động, không chỉ trong công việc hiện tại, nhưng cũng trong các nhiệm vụ trong tương lai, và từ đó góp phần vào hiệu quả tổ chức. [32] Ở Việt Nam, đào tạo cũng được định nghĩa qua một số giáo trình của các tác giả và Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về Đào tạo, bồi dưỡng công chức. Theo đó một số nhận định về đào tạo như sau: Đào tạo là tiến trình với nỗ lực cung cấp cho 8 nhân viên những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức cũng như mục tiêu.
Thêm vào đó, đào tạo được thiết kế để giúp đỡ, hỗ trợ nhân viên tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức [15]. Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học. [5] Đào tạo là một quá trình học tập nghiệp vụ và kinh nghiệm tại môi trường làm việc để tìm kiếm sự thay đổi về chất tương đối lâu dài của một cá nhân, giúp cá nhân có thêm năng lực thực hiện tốt công việc của mình. Nhờ đào tạo mà người lao động có thêm nhiều hiểu biết, đổi mới phương pháp, kỹ năng, thái độ làm việc và thái độ đối với các đồng nghiệp tại nơi làm việc.
Mục đích của đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức hải quan Đối với các tổ chức nói chung, đào tạo nguồn nhân lực có vai trò quan trọng. Nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp cho thấy, công nghệ ngày càng thay đổi nhanh chóng cùng với sự cạnh tranh ngày càng tăng trên toàn cầu vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Để thành công, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp phải xem xét một loạt các yếu tố, bao gồm đào tạo và phát triển nhân sự, thường được coi là ưu tiên hàng đầu (Faulkner 2004)[22].