Tổng quan nghiên cứu

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là nhiệm vụ chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn tại Việt Nam. Theo thống kê của ngành lao động, cả nước từng ghi nhận 30,6 triệu lao động nông thôn, trong đó hơn 91% chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Để giải quyết nút thắt này, Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" với mục tiêu bình quân đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm, hướng tới mục tiêu lao động qua đào tạo cả nước đạt trên 70% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55% tổng lao động xã hội.

Thành phố Tam Kỳ giữ vị trí trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Quảng Nam. Giai đoạn 2006-2010, kinh tế thành phố đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng 15,12% và GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.321 USD/người/năm. Tuy nhiên, khu vực nông thôn của thành phố lại bộc lộ sự phát triển chưa tương xứng. Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo năm 2010 chỉ đạt 14,55%, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ chung toàn thành phố là 42%. Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người tại khu vực nông thôn năm 2010 chỉ dừng ở mức 682 USD/người/năm, tương đương 51,63% mức bình quân chung, và có đến hơn 60% tổng số hộ nghèo toàn thành phố tập trung tại địa bàn các xã nông thôn.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; phân tích toàn diện thực trạng đào tạo nghề và chất lượng nguồn nhân lực tại 4 xã nông thôn thành phố Tam Kỳ gồm Tam Thanh, Tam Thăng, Tam Phú và Tam Ngọc với tổng diện tích 51,655 km² (chiếm 55,65% diện tích toàn thành phố); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề từ năm 2011 trở đi. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Tam Kỳ lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2010-2015) với chỉ tiêu 65% lao động xã hội qua đào tạo và Quyết định số 494/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về đào tạo nghề nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên Lý thuyết Phát triển Vốn con người (Human Capital Theory) và Mô hình Đánh giá Chất lượng Đào tạo dựa trên Giá trị gia tăng (Added Value Model), trong đó chất lượng đào tạo được xác định bằng hiệu số giữa chuẩn đầu ra và các điều kiện đầu vào của người học. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng Khung chuẩn năng lực thực hiện (Competency Standards) với bộ ba tiêu chuẩn cốt lõi: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skills) và Thái độ/Hành vi (Attitude/Behaviour - KSA).

Hệ thống khái niệm chính được làm rõ bao gồm:

  • Lao động nông thôn: Những cá nhân trong lực lượng lao động hoạt động trong hệ thống kinh tế khu vực nông thôn (địa bàn hành chính cấp xã).
  • Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Hoạt động truyền đạt kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành tại các cơ sở dạy nghề nhằm giúp người lao động đạt tiêu chuẩn nghề nghiệp, có khả năng tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm.
  • Chất lượng đào tạo nghề: Mức độ đáp ứng của người học đối với yêu cầu của thị trường lao động và xã hội sau khi hoàn thành chương trình.
  • Phân loại trình độ dạy nghề: Bao gồm 3 cấp độ là sơ cấp nghề (dưới 1 năm), trung cấp nghề (1 đến 4 năm tùy trình độ đầu vào) và cao đẳng nghề (2 đến 3 năm).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp phong phú. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Chi cục Thống kê thành phố Tam Kỳ, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH), và các văn kiện chính sách từ năm 2006 đến năm 2010. Dữ liệu sơ cấp dựa trên hai cuộc điều tra chuyên đề: Cuộc khảo sát nhu cầu học nghề trên cỡ mẫu 1.213 lao động nông thôn do Phòng LĐTB&XH thành phố Tam Kỳ thực hiện cuối năm 2010, và Cuộc tổng điều tra cung lao động năm 2010 của Bộ LĐTB&XH trên địa bàn 4 xã với cỡ mẫu 20.962 nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo địa bàn 4 xã ngoại thành (Tam Thanh, Tam Thăng, Tam Phú, Tam Ngọc) và theo cơ cấu 3 nhóm ngành kinh tế chính (Nông - Lâm - Thủy sản, Công nghiệp - Xây dựng, Thương mại - Dịch vụ). Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm, phân tích cấu trúc chuỗi thời gian (2006-2010) và xử lý dữ liệu qua phần mềm chuyên dụng. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh chính xác các mối quan hệ nhân quả giữa trình độ học vấn, cơ cấu kinh tế địa phương và nhu cầu học nghề thực tế của từng nhóm đối tượng nông dân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn Tam Kỳ có cơ cấu "hình tháp ngược" vô cùng bất hợp lý. Trong số 716 lao động nông thôn có trình độ chuyên môn được khảo sát, số người có bằng đại học, cao đẳng và thạc sĩ chiếm tới 70,95% (508 người), trong khi số người qua đào tạo nghề (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng nghề) chỉ chiếm 29,05% (208 người). Tỷ lệ cơ cấu trình độ giữa Đại học/Cao đẳng - Trung cấp chuyên nghiệp - Công nhân kỹ thuật ở nông thôn Tam Kỳ là 1 - 0,9 - 0,8. Tỷ lệ này lệch pha nghiêm trọng khi so sánh với mức bình quân của tỉnh Quảng Nam (1 - 2,1 - 5), bình quân cả nước (1 - 2,5 - 6) và chuẩn mực của các quốc gia công nghiệp phát triển (1 - 4 - 20).

Thứ hai, nền tảng học vấn phổ thông của lao động nông thôn còn rất hạn chế và tỷ lệ không tham gia hoạt động kinh tế ở mức cao. Trong tổng số 17.299 lao động nông thôn được khảo sát về học vấn, có tới 94,10% (16.279 người) chỉ có trình độ từ trung học phổ thông trở xuống, trong đó bậc trung học cơ sở chiếm 49,62% (8.584 người) và tiểu học chiếm 30,55% (5.284 người). Về tình trạng việc làm, cuộc điều tra trên 20.962 người từ 15 tuổi trở lên tại 4 xã cho thấy tỷ lệ thất nghiệp là 1,49% (313 người), nhưng có đến 32,75% (6.865 người) không tham gia hoạt động kinh tế, gây lãng phí lớn nguồn nhân lực sẵn có.

Thứ ba, cơ cấu lao động theo ngành nghề phân bổ chưa đồng đều và mang tính thuần nông cao. Kết quả khảo sát 1.213 lao động nông thôn cho thấy 49,05% (595 người) làm việc trong nhóm ngành Nông - Lâm - Thủy sản, 35,70% (433 người) làm trong ngành Công nghiệp - Xây dựng, và chỉ 15,25% (185 người) hoạt động trong lĩnh vực Thương mại - Dịch vụ.

Thứ tư, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề có sự mất cân đối về mặt địa lý và thiếu hụt hạ tầng thực hành chuẩn. Đến cuối năm 2010, toàn thành phố có 24 cơ sở dạy nghề (tăng 11 cơ sở so với năm 2005), bao gồm 2 trường cao đẳng, 2 trường trung cấp và 19 trung tâm dạy nghề. Tuy nhiên, toàn bộ 24 cơ sở này đều đặt tại các phường trung tâm nội thị, khiến nông dân 4 xã ngoại thành gặp rào cản lớn về đi lại. Đối chiếu với Quyết định số 71/2008/QĐ-BLĐTBXH, hệ thống phòng học lý thuyết còn thiếu khoảng 600 m² và diện tích xưởng thực hành còn thiếu khoảng 1.500 m².

Thảo luận kết quả

Thực trạng cơ cấu 1 - 0,9 - 0,8 chứng minh rõ nét tâm lý chuộng bằng cấp hàn lâm hơn học nghề thực hành trong cộng đồng dân cư nông thôn. Sự thiếu hụt công nhân kỹ thuật trực tiếp sản xuất đã tạo ra điểm nghẽn lớn cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương. Nguyên nhân gốc rễ xuất phát từ việc công tác dự báo thị trường lao động giai đoạn 2006-2010 chưa được chú trọng, các cơ sở chủ yếu dạy nghề dựa trên năng lực sẵn có thay vì đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, khoảng cách thu nhập giữa đô thị và nông thôn ngày càng gia tăng (682 USD so với 1.321 USD năm 2010) là hệ quả trực tiếp từ việc tỷ lệ đào tạo nghề nông thôn chỉ đạt 14,55%. Trong các báo cáo kinh tế - xã hội, các phát hiện này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ học vấn, biểu đồ tháp thể hiện cơ cấu nhân lực (Đại học - Trung cấp - Công nhân kỹ thuật), và biểu đồ đường thể hiện tương quan chênh lệch thu nhập bình quân giai đoạn 2006-2010.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng mạng lưới dạy nghề lưu động trực tiếp về 4 xã nông thôn. Ủy ban nhân dân thành phố Tam Kỳ phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn dưới 3 tháng và sơ cấp nghề ngay tại các nhà văn hóa thôn, xã. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo từ 14,55% năm 2010 lên 45% vào năm 2015 và đạt trên 65% vào năm 2020. Lộ trình thực hiện bắt đầu triển khai thí điểm từ quý 2 năm 2011 tại xã Tam Thanh và Tam Thăng.

Thứ hai, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng mô-đun tích hợp và gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Các trường cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn cần phối hợp với các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Tam Thăng và Cụm công nghiệp Trường Xuân để xây dựng chương trình thực hành chiếm tối thiểu 70% thời lượng. Mục tiêu đảm bảo ít nhất 80% lao động sau khi tốt nghiệp có việc làm ổn định hoặc tự mở rộng quy mô sản xuất. Lộ trình thực hiện theo từng chu kỳ năm học từ 2011 đến 2020 do các cơ sở đào tạo nghề chủ trì.

Thứ ba, hoàn thiện cơ sở vật chất và bổ sung xưởng thực hành đạt chuẩn. Ủy ban nhân dân thành phố cần phân bổ nguồn ngân sách hàng năm từ 4 đến 5 tỷ đồng kết hợp nguồn vốn xã hội hóa để giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu hụt 600 m² phòng học lý thuyết và 1.500 m² xưởng thực hành theo quy định tại Quyết định 71/2008/QĐ-BLĐTBXH. Lộ trình hoàn thành các hạng mục xây dựng cơ bản trước năm 2015 dưới sự giám sát của Phòng Tài chính - Kế hoạch và Phòng LĐTB&XH.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tư vấn, định hướng nghề nghiệp và truyền thông thay đổi nhận thức. Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên thành phố cần chủ động mở các đợt tuyên truyền sâu rộng nhằm xóa bỏ tâm lý tự ti, hướng nghiệp cho nhóm 2.735 thanh niên trong độ tuổi 15-19 và thu hút 6.865 lao động chưa tham gia hoạt động kinh tế vào các khóa học nghề chuyển đổi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Sở LĐTB&XH tỉnh Quảng Nam, UBND thành phố Tam Kỳ, UBND các xã). Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và hệ thống chỉ số định lượng giúp xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực và triển khai hiệu quả Đề án 1956 tại cơ sở.

Nhóm 2: Ban giám hiệu và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Tài liệu là cẩm nang thực tiễn giúp các trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm dạy nghề tái cấu trúc danh mục ngành nghề, áp dụng chuẩn năng lực KSA và điều chỉnh giáo trình phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp địa phương.

Nhóm 3: Doanh nghiệp, hợp tác xã và các hiệp hội ngành nghề tại Quảng Nam. Nghiên cứu hỗ trợ các đơn vị tuyển dụng nắm bắt đặc điểm tâm lý, cơ cấu tuổi và trình độ của nguồn lao động ngoại thành, từ đó chủ động phối hợp thực hiện mô hình đặt hàng đào tạo theo địa chỉ.

Nhóm 4: Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát chọn mẫu phân tầng, phân tích chuỗi số liệu kinh tế - xã hội và đánh giá chính sách đào tạo nghề cấp địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo tại thành phố Tam Kỳ năm 2010 chỉ đạt 14,55%? Tỷ lệ này bắt nguồn từ việc 94,10% lao động nông thôn có trình độ học vấn từ phổ thông trở xuống, mang nặng tâm lý tự ti và thói quen canh tác truyền thống. Thêm vào đó, toàn bộ 24 cơ sở đào tạo nghề đều phân bố tại khu vực nội thị, gây trở ngại địa lý lớn cho người dân 4 xã ngoại thành tiếp cận các khóa học.

Cơ cấu trình độ lao động 1 - 0,9 - 0,8 tại nông thôn Tam Kỳ phản ánh bất cập gì? Cơ cấu 1 Đại học/Cao đẳng - 0,9 Trung cấp - 0,8 Công nhân kỹ thuật phản ánh tình trạng mất cân đối trầm trọng dạng "thừa thầy thiếu thợ". Số người tốt nghiệp đại học, cao đẳng chiếm tới 70,95%, trong khi lao động qua đào tạo nghề trực tiếp chỉ chiếm 29,05%, hoàn toàn đi ngược lại chuẩn mực công nghiệp hóa 1 - 4 - 20.

Đề án 1956 và Quyết định 494 mang lại cơ chế hỗ trợ tài chính cụ thể nào cho người học? Quyết định số 1956/QĐ-TTg và Quyết định số 494/QĐ-UBND cung cấp chính sách hỗ trợ 100% chi phí học nghề ngắn hạn cho lao động thuộc diện hộ nghèo, người có công và đồng bào dân tộc. Đồng thời, các chính sách này hỗ trợ tiền ăn, chi phí đi lại và phân bổ hàng chục tỷ đồng để hiện đại hóa trang thiết bị thực hành tại các cơ sở công lập.

Cỡ mẫu và phương pháp điều tra của luận văn có đảm bảo độ tin cậy khoa học không? Nghiên cứu sử dụng nguồn số liệu kép bao gồm mẫu điều tra nhu cầu chuyên sâu 1.213 lao động và dữ liệu tổng điều tra cung lao động trên 20.962 nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên tại 4 xã. Kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo nhóm ngành nghề và độ tuổi đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ khu vực nông thôn Tam Kỳ.

Mô hình đào tạo nghề nào phù hợp nhất đối với xã ven biển như Tam Thanh? Mô hình đào tạo kết hợp giữa nhà nước, trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp du lịch - thủy sản là giải pháp tối ưu. Với bờ biển dài 8,4 km, việc mở các lớp truyền nghề ngắn hạn về chế biến thủy hải sản công nghệ cao và kỹ năng dịch vụ du lịch cộng đồng sẽ trực tiếp giúp tăng thu nhập vượt mốc 682 USD/năm.

Kết luận

  • Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo tại thành phố Tam Kỳ năm 2010 còn rất thấp, chỉ đạt 14,55%, dẫn đến mức thu nhập bình quân 682 USD/người/năm thấp hơn nhiều so với bình quân toàn thành phố.
  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận về đào tạo nghề dựa trên giá trị gia tăng và chuẩn năng lực KSA (Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ).
  • Phát hiện bất cập then chốt về cơ cấu trình độ nhân lực lệch pha nghiêm trọng ở mức 1 - 0,9 - 0,8 và tình trạng 32,75% dân số trong độ tuổi lao động tại 4 xã chưa tham gia hoạt động kinh tế.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gồm mở lớp dạy nghề lưu động, liên kết đào tạo với doanh nghiệp, bổ sung 1.500 m² xưởng thực hành và đẩy mạnh hướng nghiệp.
  • Xác lập lộ trình hành động giai đoạn 2011-2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu 65% lao động qua đào tạo theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Tam Kỳ lần thứ XIX.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh toàn cảnh, có căn cứ số liệu khoa học vững chắc về thực trạng nguồn nhân lực nông thôn ven đô thị. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tạo bước chuyển biến căn bản về chất lượng lao động nông thôn Tam Kỳ trong giai đoạn tới.