Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nhân lực trong khu vực công đóng vai trò then chốt đối với năng lực quản trị quốc gia và tiến trình hiện đại hóa đất nước. Tính đến năm 2011, hệ thống hành chính và sự nghiệp của Việt Nam ghi nhận quy mô khoảng 2,84 triệu cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có hơn 1 triệu người công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức trở thành một trong bảy nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng thời gian qua vẫn bộc lộ khoảng cách đáng kể giữa năng lực thực tế và yêu cầu thực thi công vụ ngày càng phức tạp. Đặc biệt, trong khối nghiên cứu khoa học và công nghệ, phương thức bồi dưỡng truyền thống chưa bắt kịp đặc thù của lao động sáng tạo trí óc. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc làm rõ cơ sở lý luận về phân định công chức, viên chức theo tinh thần Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010; đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2011 - 2020. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học nhằm tái cấu trúc quy trình đào tạo, hướng tới mục tiêu 100% cán bộ quản lý và nghiên cứu viên đạt chuẩn ngạch và vị trí việc làm chuyên nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, kết hợp cùng lý thuyết quản trị nguồn nhân lực hiện đại trong khu vực công và mô hình phát triển năng lực dựa trên vị trí việc làm. Luận văn tiếp cận hệ thống 6 đặc thù bản chất của lao động khoa học công nghệ, bao gồm: tính chất lao động trí óc chuyên sâu, tính sáng tạo tri thức, độ mạo hiểm cao, tính độc lập cá thể, tính kế thừa tích lũy tri thức và tính lý tưởng nghề nghiệp sâu sắc.

Về mặt pháp lý và khái niệm, luận văn làm rõ 4 thuật ngữ nền tảng:

  • Công chức: Công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ trong cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội hoặc giữ cương vị lãnh đạo, quản lý tại đơn vị sự nghiệp công lập, hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP.
  • Viên chức: Công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương sự nghiệp theo Luật Viên chức năm 2010.
  • Đào tạo: Quá trình truyền thụ khối lượng kiến thức mới có hệ thống theo chương trình chuẩn hóa để người học được nâng cao trình độ và cấp văn bằng chính quy.
  • Bồi dưỡng: Quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên đề theo tiêu chuẩn ngạch bậc hoặc yêu cầu công việc nhằm cấp chứng chỉ chuyên môn.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ các báo cáo chính thức của Bộ Nội vụ, hệ thống số liệu quản lý cán bộ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và thống kê đào tạo sau đại học từ năm 1986 đến năm 2009. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát hơn 2.500 cán bộ, viên chức thuộc 30 đơn vị viện nghiên cứu, trung tâm chuyên ngành trực thuộc Viện. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo nhóm ngạch nghiên cứu viên (nghiên cứu viên cao cấp loại A, nghiên cứu viên chính loại B, nghiên cứu viên loại C) và khối hành chính quản lý được áp dụng để đảm bảo tính đại diện.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, quy nạp logic và so sánh pháp luật. Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình qua kinh nghiệm quốc tế tại Cộng hòa Pháp (quản lý 5,3 triệu công chức) và Cộng hòa Slovenia nhằm đối chiếu, rút ra bài học thích hợp cho hoàn cảnh Việt Nam. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác tính chất đặc thù của đội ngũ nghiên cứu khoa học, khắc phục nhược điểm cào bằng của các nghiên cứu hành chính đại trà.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tăng trưởng mạnh mẽ nhưng cơ cấu còn mất cân đối. Trong cả giai đoạn 2001 - 2010, hệ thống hành chính cả nước đã thực hiện khoảng 4,8 triệu lượt cán bộ tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng. Riêng giai đoạn 2001 - 2005 ghi nhận khoảng 2.000.000 lượt người, trong đó bồi dưỡng lý luận chính trị chiếm 407.000 lượt (tương đương 20,35%), quản lý nhà nước đạt 894.000 lượt (44,7%), chuyên môn nghiệp vụ đạt 1.000.000 lượt (50%), trong khi bồi dưỡng ngoại ngữ chỉ đạt 37.000 lượt (1,85%) và tin học đạt 96.000 lượt (4,8%).

Thứ hai, công tác đào tạo sau đại học và hội nhập quốc tế của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đạt nhiều dấu ấn nhưng chưa khai thác hết tiềm năng. Giai đoạn 1986 - 2009, Viện đã đào tạo hàng trăm tiến sĩ, thạc sĩ khoa học tự nhiên. Bên cạnh đó, cả nước đã cử 27.180 chuyên gia đầu ngành và công chức nguồn đi đào tạo ở nước ngoài. Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ tại Viện thành thạo ngoại ngữ để làm việc độc lập trong môi trường quốc tế chỉ đạt khoảng 25% - 30%, tạo rào cản lớn trong việc công bố công trình trên các tạp chí quốc tế uy tín.

Thứ ba, hoạt động đào tạo vẫn mang nặng định hướng cung hơn là định hướng cầu. Hơn 60% học viên tham gia các lớp bồi dưỡng xuất phát từ áp lực hoàn thiện chứng chỉ để giữ ngạch, chuyển ngạch hoặc bổ nhiệm chức vụ thay vì nhu cầu thực chất phục vụ công việc. Chương trình đào tạo còn trùng lặp, nặng về lý thuyết hành chính chung chung và thiếu các chuyên đề chuyên sâu về kỹ năng chuyển giao công nghệ, quản trị sở hữu trí tuệ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những bất cập trên bắt nguồn từ việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về đánh giá chất lượng đào tạo theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP. Cơ chế tài chính và quản lý nhân sự chưa gắn kết chặt chẽ giữa kết quả học tập với thu nhập tăng thêm và cơ hội thăng tiến.

So chiếu với kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, quốc gia này quy định công chức sau 3 năm công tác có quyền yêu cầu được đào tạo bồi dưỡng định kỳ và thời gian đi học được tính là thời gian làm việc có lương. Trong khi đó, tại Slovenia, khung pháp lý phân tách rạch ròi giữa mục tiêu thích ứng công nghệ và mục tiêu nâng cao hiệu quả bộ máy công quyền.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu trong luận văn có thể được biểu diễn qua hai công cụ:

  • Biểu đồ phân bố lực lượng cán bộ theo trình độ chuyên môn (tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân) qua biểu đồ hình tròn (pie chart) để thể hiện sự dịch chuyển chất lượng nguồn nhân lực trong 5 năm.
  • Bảng tổng hợp số lượng công bố khoa học kết hợp biểu đồ cột thể hiện mức độ biến động nhân sự và kết quả đào tạo sau đại học từ năm 1986 đến năm 2009, giúp các nhà quản lý thấy rõ tương quan giữa đầu tư bồi dưỡng và sản lượng nghiên cứu thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm nội bộ. Ban Lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cần chủ trì xây dựng và ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức riêng biệt cho khối nghiên cứu khoa học, cụ thể hóa các quy định của Luật Viên chức năm 2010 và Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, hoàn thành trong giai đoạn 2012 - 2013.

Thứ hai, đổi mới 100% chương trình và tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Tái cấu trúc khung nội dung bằng cách giảm 30% lý thuyết hành chính chung, tăng 40% thời lượng cho các kỹ năng chuyên biệt: xây dựng đề xuất dự án khoa học quốc tế, đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ và quản trị tài chính đề tài. Đặt mục tiêu đến năm 2015 có 100% công chức quản lý đạt chuẩn ngạch chuyên viên chính trở lên.

Thứ ba, thiết lập hệ thống đánh giá hiệu quả đào tạo 4 cấp độ. Trung tâm Đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ cần phối hợp cùng Ban Tổ chức - Cán bộ triển khai bộ chỉ số đo lường hiệu quả sau đào tạo (mô hình Kirkpatrick). Đảm bảo tối thiểu 85% học viên sau bồi dưỡng áp dụng được kỹ năng mới vào hoạt động nghiên cứu thực tế trong vòng 6 tháng sau khóa học.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế và hiện đại hóa cơ sở vật chất. Viện cần chủ động mở rộng liên kết với các viện hàn lâm tại Pháp, Nhật Bản và Đức, phấn đấu cử từ 50 đến 70 cán bộ nghiên cứu trẻ đi tu nghiệp ngắn hạn và dài hạn mỗi năm trong giai đoạn 2012 - 2020, kết hợp đầu tư phòng học trực tuyến và hệ thống thư viện điện tử đồng bộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo và cán bộ quản lý nhân sự tại các viện nghiên cứu và trường đại học: Nắm bắt phương pháp lập kế hoạch đào tạo theo chu kỳ 3 - 5 năm, xây dựng bản mô tả vị trí việc làm và thiết kế khung năng lực cho hơn 2.500 nhà khoa học và viên chức chuyên môn.
  • Chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Nội vụ và Bộ Khoa học và Công nghệ: Sử dụng các số liệu thực chứng và phân tích pháp lý để tham khảo xây dựng thông tư hướng dẫn tiêu chuẩn ngạch chức danh nghề nghiệp viên chức khoa học công nghệ.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Nhà nước: Khai thác mô hình lý thuyết so sánh giữa Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010, cùng nguồn tài liệu tham khảo phong phú về cải cách hành chính công.
  • Nghiên cứu viên và viên chức khoa học công nghệ: Xác định lộ trình tự đào tạo, phát triển kỹ năng nghiên cứu độc lập, nâng cao năng lực ngoại ngữ và xuất bản công trình khoa học đạt chuẩn quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt căn bản giữa công chức và viên chức theo pháp luật hiện hành là gì?
Công chức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc giữ vị trí lãnh đạo đơn vị sự nghiệp, hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương sự nghiệp theo Luật Viên chức năm 2010.

Tại sao đào tạo bồi dưỡng trong lĩnh vực khoa học công nghệ cần có quy chế đặc thù?
Lao động khoa học công nghệ mang 6 đặc thù riêng biệt như tính sáng tạo, độ mạo hiểm cao và tính độc lập cá thể. Do đó, nội dung bồi dưỡng không thể áp dụng rập khuôn theo hành chính thuần túy mà phải tập trung vào phương pháp nghiên cứu, quản trị công nghệ và tư duy sáng tạo.

Hạn chế lớn nhất trong công tác đào tạo cán bộ giai đoạn 2001 - 2010 là gì?
Hạn chế lớn nhất là đào tạo theo định hướng cung, nặng về hình thức văn bằng chứng chỉ để đối phó chuyển ngạch (chiếm hơn 60% học viên). Tỷ lệ bồi dưỡng ngoại ngữ và tin học chỉ chiếm dưới 5% tổng số lượt đào tạo, dẫn đến chất lượng hội nhập quốc tế chưa cao.

Mô hình đào tạo công chức của Cộng hòa Pháp mang lại bài học kinh nghiệm gì?
Cộng hòa Pháp quy định công chức có quyền yêu cầu đào tạo định kỳ sau chu kỳ 3 năm làm việc, coi thời gian đào tạo là thời gian làm việc có lương. Mô hình này giúp gắn quyền lợi của người học với trách nhiệm tự hoàn thiện năng lực chuyên môn suốt đời.

Làm thế nào để đo lường chính xác hiệu quả sau đào tạo của viên chức khoa học?
Cần áp dụng bộ tiêu chí đánh giá theo Điều 16 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, kết hợp mô hình 4 cấp độ đánh giá sự phản hồi, mức độ tiếp thu, hành vi ứng dụng vào đề tài nghiên cứu thực tế và số lượng bài báo khoa học xuất bản trong vòng 6 đến 12 tháng.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phân định công chức và viên chức, tạo khung pháp lý chuẩn mực cho công tác quản trị nhân sự công.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn đào tạo hơn 4,8 triệu lượt cán bộ cả nước và đánh giá chuyên sâu năng lực của hơn 2.500 cán bộ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  • Xác lập 6 đặc thù lao động khoa học công nghệ làm căn cứ khoa học để đổi mới phương thức bồi dưỡng theo vị trí việc làm.
  • Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế từ Pháp và Slovenia về cơ chế đào tạo bắt buộc theo chu kỳ và phân loại nhóm đối tượng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn với lộ trình chuyển đổi số và nâng cao tỷ lệ ứng dụng thực tế trên 85%.

Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2012 - 2015 cần tập trung hoàn thiện quy chế nội bộ và chuẩn hóa chức danh; giai đoạn 2015 - 2020 đẩy mạnh liên kết đào tạo quốc tế và chuyển giao công nghệ. Quý bạn đọc, nhà quản lý và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy khai thác toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngay hôm nay.