Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 922 90 02, do nghiên cứu sinh Lê Thị Nam An thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể người hướng dẫn gồm PGS.TS. Trần Sỹ Phán và TS. Trần Sỹ Dương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong cấu trúc nhân cách của người cán bộ, công chức, đạo đức đóng vai trò là "nền tảng", "hạt nhân" và là yếu tố "chưng cất". Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2021) đã chỉ rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức suy thoái đạo đức, lối sống và vi phạm đạo đức công vụ". Mặc dù vấn đề đạo đức công vụ đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý, nhưng cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Đây là khoảng trống nghiên cứu chính mà luận án xác định để tập trung giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục tình trạng này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
    2. Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
    3. Phân tích thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng.
    4. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2022. Mốc thời gian năm 2001 được lựa chọn do đây là thời điểm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phạm vi không gian: Trên phạm vi toàn quốc.
  • Phạm vi khảo sát: Luận án tập trung phân tích thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực của đội ngũ cán bộ, công chức trong lĩnh vực dân sự.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai nhóm nội dung chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu về công vụ, đạo đức công vụ và chuẩn mực đạo đức công vụ

  • Về khái niệm công vụ: Cuốn Thuật ngữ Hành chính của Học viện Hành chính Quốc gia (dịch từ công trình của Trường Đại học Tổng hợp Stellenbosch, Nam Phi) tiếp cận công vụ ở góc độ hoạt động của chính phủ và bộ máy hành chính; Thân Minh Quế (2014) xác định công vụ là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý; Ngô Thành Can (2013) xem công vụ là loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý do công chức thực hiện bằng ngân sách nhà nước.
  • Về đạo đức công vụ: Đỗ Thị Ngọc Lan (2013, 2018) nghiên cứu so sánh quy định đạo đức công vụ của một số quốc gia và Việt Nam; Ngô Thành Can (2013) làm rõ tính tất yếu và các giá trị cốt lõi của đạo đức công chức; Nguyễn Chí Mỳ (2001), Nguyễn Thế Kiệt (2006) và Trần Văn Phòng (2008) phân tích sự biến đổi thang giá trị đạo đức và tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị trong kinh tế thị trường.
  • Về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong công vụ: Trần Quốc Hải (2017), Lưu Kiếm Thanh (2009), Bùi Huy Tùng (2014) và Cao Minh Công (2011) khẳng định sự cần thiết phải thể chế hóa các quy phạm đạo đức thành quy định pháp luật; Trần Anh Tuấn (2012) phân tích tiêu chuẩn công chức gắn với năng lực thực thi; nhóm tác giả Minh Hoàng, Thu Hường, An Nhiên, Khôi Nguyên, Tâm Thành (2015) nghiên cứu mô hình công vụ Cộng hòa Liên bang Đức; Phạm Nhẫn (2015) bàn về đạo đức công vụ trong cải cách hành chính; Trung Sơn (2014) khảo sát kinh nghiệm chống tham nhũng và nâng cao đạo đức công vụ tại Trung Quốc.
  • Về đạo đức công vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Bùi Đình Phong (2010), Trương Quỳnh Hoa (2011), Hoàng Chí Bảo (2009), Trần Hồng Hà (2015) nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư vào hoạt động công vụ hiện nay.
  • Về các yếu tố tác động và giải pháp nâng cao đạo đức công vụ: Trương Quốc Chính (2012), Nguyễn Tiến Hiệp (2014, 2017), Trần Sỹ Phán (2014), Vũ Văn Điệp (2015), Hồ Trọng Hoài (2011), Bùi Thị Long (2012), Trần Thị Hạnh (2012), Hứa Thị Kiều Hoa (2018), Trần Thị Thu Hường (2020), Đặng Khắc Ánh (2012), Nguyễn Minh Tuấn (2009), Nguyễn Tiến Trung (2011).

Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ và tác động của kinh tế thị trường

  • Phân tích các biểu hiện và cấp độ lệch chuẩn: Đỗ Huy (2001) phân tích sự biến động của chuẩn mực đạo đức qua các thời kỳ (chỉ ra hiện tượng "khoán chui" trong nông nghiệp thời kỳ bao cấp là "lệch chuẩn trưởng thành", đồng thời phân biệt lệch chuẩn tích cực và lệch chuẩn suy thoái); Nguyễn Quốc Sửu (2013) phân tích mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa đạo đức công vụ và tham nhũng thông qua các vụ án cụ thể (vụ đất công Hải Phòng, dự án Quán Nam, Đề án 112, tượng đài Điện Biên Phủ, Vinashin nợ 80 nghìn tỷ đồng); Cao Minh Công (2012) dẫn số liệu thiệt hại do tham nhũng giai đoạn 8/2010 - 7/2011 lên tới 11.400 tỷ đồng; Lý Thị Huệ và Đặng Văn Luận (2012) chỉ ra bốn biểu hiện suy thoái gồm tham nhũng vặt, chạy chọt, quan liêu/vô cảm và lãng phí; Nguyễn Duy Hạnh (2017) chỉ ra tác phong cai trị kiểu cũ ở một bộ phận công chức; Ngô Thành Can (2012) phân loại lệch chuẩn hành vi thành hai nhóm (lệch chuẩn thụ động và lệch chuẩn chủ động) cùng bốn nhóm nguyên nhân phát sinh.
  • Phân tích tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức cán bộ: Trần Sỹ Phán (2014), Trần Sỹ Dương (2017), Nguyễn Chí Mỳ (2017), Vũ Văn Gầu (2001), Nguyễn Trọng Chuẩn (2009), Trần Văn Bính (2007), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2016), Nguyễn Tiến Hiệp (2018).
Nhóm nghiên cứu Đại diện tiêu biểu Trọng tâm phân tích
Lý luận về công vụ và ĐĐCV Thân Minh Quế, Ngô Thành Can, Đỗ Thị Ngọc Lan, Lưu Kiếm Thanh Bản chất quyền lực - pháp lý của công vụ; tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp và sự thể chế hóa
ĐĐCV theo tư tưởng Hồ Chí Minh Bùi Đình Phong, Trương Quỳnh Hoa, Hoàng Chí Bảo, Trần Hồng Hà Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo
Lệch chuẩn ĐĐCV và tác động của KTTT Đỗ Huy, Nguyễn Quốc Sửu, Ngô Thành Can, Vũ Văn Gầu, Trần Văn Bính Bản chất lệch chuẩn hành vi; thực trạng tham nhũng, tha hóa quyền lực; mặt trái cơ chế thị trường
Giải pháp nâng cao ĐĐCV Nguyễn Tiến Hiệp, Trần Sỹ Phán, Vũ Văn Điệp, Hồ Trọng Hoài Đổi mới công tác cán bộ; giáo dục chính trị tư tưởng; thanh tra, kiểm tra, kiểm soát quyền lực

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở lý luận về đạo đức công vụ và thực trạng suy thoái đạo đức nói chung. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu tiếp cận ở góc độ luật học, xã hội học hoặc khoa học quản lý hành chính, tập trung vào giải pháp nâng cao đạo đức công vụ mang tính diện rộng. Luận án của Lê Thị Nam An chọn giải quyết khoảng trống: nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về hiện tượng "lệch chuẩn đạo đức công vụ" dưới lăng kính triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân định ranh giới giữa chuẩn mực đạo đức và quy phạm pháp luật, xác định tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn tiêu cực trong điều kiện vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam từ năm 2001 đến nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án được xây dựng dựa trên nền tảng:

  • Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử: Vận dụng quy luật tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và quan điểm của Ph. Ăngghen về nguồn gốc kinh tế - giai cấp của đạo đức để giải thích sự biến đổi của chuẩn mực đạo đức khi chuyển đổi phương thức kinh tế.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng: Quan niệm "đức là gốc" của người cách mạng, các chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", "tận tụy phục vụ nhân dân".
  • Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc (IX, XII, XIII), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về công tác cán bộ.
  • Khung khái niệm do tác giả xác lập: Đạo đức công vụ là một dạng đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp, được điều chỉnh bởi niềm tin cá nhân, lương tâm và dư luận xã hội. Quan niệm "pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa" được sử dụng xuyên suốt để phân định hành vi tuân thủ pháp lý và hành vi đạt chuẩn mực đạo đức tự giác.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành Triết học:

  • Phương pháp lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đóng vai trò hạt nhân phương pháp luận để xem xét sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: Luận giải tiến trình hình thành các chuẩn mực đạo đức công vụ, sự vận động của các hành vi lệch chuẩn qua các giai đoạn phát triển kinh tế và tính nhất quán giữa thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các yếu tố cấu thành đạo đức công vụ, bóc tách các biểu hiện và tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn, từ đó tổng hợp thành các luận điểm và kết luận khoa học.
  • Phương pháp thống kê: Được sử dụng tại Chương 1 và Chương 3 nhằm tập hợp, đánh giá tư liệu nghiên cứu, số liệu biên chế, số liệu xử lý kỷ luật và các vụ việc sai phạm công vụ thực tế.
  • Phương pháp dự báo khoa học: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 4 để dự báo xu hướng vận động của đạo đức công vụ và đề xuất các giải pháp khả thi.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn văn kiện, văn bản pháp luật: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng; Luật Cán bộ, công chức (Điều 2 quy định phạm vi hoạt động công vụ, Điều 3 quy định 5 nguyên tắc thi hành công vụ); Nghị định 112/2020/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (khoản 9 Điều 8 và khoản 9 Điều 16); các quyết định, thông tư của bộ ngành như Quyết định số 2659/QĐ-BTP (chuẩn mực đạo đức ngành tư pháp), Quyết định số 11/QĐ-HHNH (chuẩn mực đạo đức ngành ngân hàng), Quyết định 758/QĐ-BNV (quy tắc ứng xử Bộ Nội vụ), Thông tư số 01/2021/TT-TTCP (quy tắc ứng xử ngành thanh tra).
  • Dữ liệu thống kê về đội ngũ công vụ: Số liệu cán bộ hưởng lương từ ngân sách đến năm 2021 (hơn 2,2 triệu người, trong đó viên chức chiếm gần 1,79 triệu người); Quyết định ngày 22/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 256.685 biên chế công chức hành chính nhà nước (không bao gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và công chức cấp xã), trong đó biên chế cơ quan hành chính nhà nước chiếm 247.722 người.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 gồm 3 tiết (từ trang 6 đến trang 31), thực hiện việc điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về công vụ, chuẩn mực đạo đức công vụ, sự lệch chuẩn đạo đức và tác động của kinh tế thị trường. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã làm rõ khái niệm công vụ ở nghĩa hẹp (hành chính nhà nước) hoặc nghĩa rộng (bao gồm cả hệ thống chính trị Việt Nam), phân tích các giá trị cốt lõi của đạo đức công chức và chỉ ra nhiều biểu hiện suy thoái. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát tham nhũng như một hiện tượng riêng lẻ hoặc đưa ra các giải pháp nâng cao đạo đức công vụ chung, chưa đi sâu phân tích có hệ thống khái niệm, cơ chế vận hành và tiêu chí xác định "sự lệch chuẩn đạo đức công vụ" theo nghĩa tiêu cực dưới tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 2 gồm 2 tiết (từ trang 32 đến trang 75), tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết:

  • Về khái niệm công vụ: Do đặc thù hệ thống chính trị Việt Nam dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, tác giả khẳng định phạm vi công vụ không chỉ giới hạn trong cơ quan hành chính nhà nước mà bao gồm toàn bộ hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội.
  • Về khái niệm đạo đức công vụ: Luận án lựa chọn cách tiếp cận coi đạo đức công vụ là một dạng đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp, bao gồm hệ thống các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực ứng xử điều chỉnh thái độ, hành vi của cán bộ, công chức trong thi hành nhiệm vụ, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, lương tâm công vụ và sự giám sát của dư luận xã hội.
  • Sáu đặc điểm của đạo đức công vụ:
    1. Là một dạng đạo đức nghề nghiệp gắn với quyền lực công, mang tính đặc thù theo từng ngành nghề.
    2. Là một dạng đạo đức xã hội, chi phối và gắn liền với đạo đức công dân, tính gương mẫu của cá nhân.
    3. Nội dung bao gồm hệ thống các nguyên tắc (trung thành với thể chế, giữ bí mật, phục vụ nhân dân), quy tắc và chuẩn mực đạo đức cụ thể.
    4. Cơ chế thực hiện dựa vào niềm tin cá nhân, lương tâm và dư luận xã hội, phân biệt với sự cưỡng chế thuần túy của quy phạm pháp luật.
    5. Vừa có tính khái quát chung cho toàn bộ đội ngũ, vừa có tính cụ thể hóa cho từng nhóm đối tượng, vị trí công tác.
    6. Đề cao tính chuẩn mực, lấy thước đo phục vụ nhân dân và sự tín nhiệm của xã hội làm căn cứ đánh giá.
  • Đặc điểm thực thi quyền lực công trong điều kiện kinh tế thị trường: Hành vi chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ chuẩn mực; đặt ra yêu cầu cao hơn trong việc xử lý mối quan hệ giữa nghĩa vụ - trách nhiệm và hưởng thụ; yêu cầu tiết chế quyền lực tránh chủ nghĩa cá nhân; yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích công và lợi ích tư, giữa cái thiện và cái ác.
  • Khái niệm và tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn đạo đức công vụ: Lệch chuẩn đạo đức công vụ được định nghĩa là sự sai lệch, chệch hướng về ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức của cán bộ, công chức so với các chuẩn mực đạo đức công vụ đã được xác lập. Luận án xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa trên mức độ vi phạm các chuẩn mực: tính trung thành với thể chế, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân, việc chấp hành kỷ luật công vụ và tính liêm chính, không vụ lợi cá nhân.

Chương 3: Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân

Chương 3 gồm 2 tiết (từ trang 76 đến trang 113), phản ánh bức tranh thực tiễn:

  • Thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực: Luận án phân tích các biểu hiện sai lệch cụ thể gồm: tình trạng quan liêu, hách dịch, xa dân, gây phiền hà, sách nhiễu công dân và doanh nghiệp; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng; chủ nghĩa thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất dẫn đến tệ tham nhũng, nhận hối lộ, lạm quyền, lợi dụng kẽ hở chính sách để trục lợi cá nhân hoặc nhóm lợi ích; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, bè phái cục bộ, mất đoàn kết nội bộ; thiếu tinh thần trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh công việc; tình trạng vi phạm kỷ luật phát ngôn và chuẩn mực đạo đức lối sống trong đời sống cá nhân, gia đình.
  • Nguyên nhân của thực trạng:
    • Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường đề cao giá trị đồng tiền và lợi ích vật chất vị kỷ; sự tác động của tàn dư cơ chế tập trung quan liêu bao cấp (tâm lý xin - cho, chủ nghĩa thân quen); hệ thống thể chế, pháp luật và chính sách quản lý kinh tế - xã hội còn bất cập, thiếu đồng bộ; chế độ tiền lương và đãi ngộ đối với cán bộ, công chức chưa đáp ứng được nhu cầu sống thực tế; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát quyền lực còn nhiều kẽ hở.
    • Nguyên nhân chủ quan: Bản thân một bộ phận cán bộ, công chức thiếu ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức công vụ ở một số cơ quan, đơn vị còn hình thức, kém hiệu quả; công tác quản lý cán bộ, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm có nơi còn lỏng lẻo, chưa lấy phẩm chất đạo đức và hiệu quả công việc thực chất làm thước đo.

Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 gồm 5 tiết (từ trang 114 đến trang 148), đề xuất 5 nhóm giải pháp:

  • Tiết 4.1: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hạn chế tối đa các mặt tiêu cực, kiểm soát sự xung đột lợi ích và giảm thiểu các cơ hội nảy sinh hành vi sai lệch chuẩn mực trong thực thi công quyền.
  • Tiết 4.2: Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác cán bộ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầm nhiệm vụ.
  • Tiết 4.3: Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho cán bộ, công chức; gắn chặt việc giáo dục đạo đức công vụ với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
  • Tiết 4.4: Phát huy tính tích cực chủ động, nâng cao ý thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện, tự soi, tự sửa của mỗi cán bộ, công chức trước sự cám dỗ của lợi ích vật chất trong cơ chế thị trường.
  • Tiết 4.5: Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò giám sát, phản biện của nhân dân; sử dụng hiệu quả kênh thông tin từ dư luận xã hội, các cơ quan báo chí và truyền thông trong việc phát hiện, ngăn ngừa và điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn đạo đức công vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

  1. Về mặt lý luận: Luận án đã làm sáng tỏ một cách hệ thống các vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức theo chiều hướng tiêu cực trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam; xác lập các tiêu chí khoa học và chỉ ra các hình thức biểu hiện của sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trên bình diện triết học đạo đức học.
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án phân tích, nhận diện rõ thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ theo xu hướng tiêu cực của một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta từ năm 2001 đến nay; đồng thời bóc tách toàn diện các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến thực trạng đó.
  3. Về mặt giải pháp: Luận án đề xuất một hệ thống gồm 5 nhóm giải pháp chủ yếu, có tính đồng bộ từ việc hoàn thiện thể chế kinh tế, đổi mới công tác cán bộ, nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng, phát huy năng lực tự rèn luyện cá nhân đến việc mở rộng dân chủ và phát huy vai trò giám sát của xã hội nhằm ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục tình trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án kiến nghị Đảng và Nhà nước cần tiếp tục thể chế hóa chuẩn mực đạo đức công vụ thành các quy tắc pháp lý rõ ràng, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và chế độ tiền lương, kiểm soát tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức; đồng thời tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực để xử lý nghiêm minh các vi phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát đối với cán bộ, công chức trong khu vực dân sự, chưa mở rộng phân tích chuyên sâu đối với khối lực lượng vũ trang và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập; khung phân tích tiếp cận thuần túy dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mà không kết hợp các mô hình điều tra xã hội học định lượng diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các nghiên cứu sau có thể mở rộng khảo sát thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ trong các lĩnh vực đặc thù (như tư pháp, tài chính, thanh tra, y tế, giáo dục) hoặc triển khai nghiên cứu định lượng về mức độ tác động của các nhân tố chính sách đối với sự suy giảm hay nâng cao đạo đức công vụ trong từng giai đoạn cải cách hành chính.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Luận án cung cấp tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy các môn Triết học Mác - Lênin, Đạo đức học, Đạo đức công vụ, Khoa học quản lý công và Xây dựng Đảng tại các trường chính trị, học viện và các cơ sở giáo dục đại học.
  • Đối với công tác lãnh đạo và quản lý: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn cho các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, ban tổ chức cán bộ và cơ quan thanh tra trong việc xây dựng quy chế đạo đức nghề nghiệp, hoàn thiện tiêu chuẩn đánh giá cán bộ và hoạch định chính sách phòng ngừa vi phạm công vụ.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống 6 đặc điểm của đạo đức công vụ và khung tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn (Chương 2); phân tích mối quan hệ giữa trách nhiệm, nghĩa vụ và hưởng thụ trong thực thi quyền lực (Chương 2 và 3); 5 nhóm giải pháp khắc phục lệch chuẩn (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về đạo đức công vụ và xác định cơ chế điều chỉnh của nó ra sao?

Theo tác giả, đạo đức công vụ là một dạng đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp, bao gồm các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực ứng xử nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ. Đạo đức công vụ được thực hiện chủ yếu bởi niềm tin cá nhân, lương tâm công vụ và dư luận xã hội. Cơ chế điều chỉnh của đạo đức công vụ vận hành từ bên trong lương tâm chủ thể, mang tính tự nguyện, phân biệt với cơ chế điều chỉnh bằng sự cưỡng chế, răn đe của pháp luật.

2. Vì sao luận án chọn phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 2001?

Tác giả chọn mốc thời gian từ năm 2001 vì đây là thời điểm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Đại hội này, Đảng ta chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là nền tảng thể chế kinh tế quan trọng làm nảy sinh các mối quan hệ lợi ích mới tác động trực tiếp đến ý thức và hành vi của cán bộ, công chức.

3. Tác giả Ngô Thành Can được luận án trích dẫn phân loại sự lệch chuẩn hành vi công vụ như thế nào?

Theo công trình của Ngô Thành Can được trích dẫn trong Chương 1, lệch chuẩn hành vi của cán bộ, công chức được phân thành hai loại:

  • Lệch chuẩn thụ động: Cá nhân có sai lệch do nhận thức chưa đầy đủ hoặc nhận thức sai về các chuẩn mực đạo đức.
  • Lệch chuẩn chủ động: Cá nhân cố ý thực hiện hành vi khác và trái với chuẩn mực chung của cộng đồng, tổ chức. Bốn nguyên nhân dẫn đến lệch chuẩn hành vi gồm: nhận thức sai chuẩn mực; quan điểm cá nhân không chấp nhận chuẩn mực chung; cố tình vi phạm; hoặc do sự biến dạng của chính chuẩn mực không còn phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.

4. Luận án dẫn chứng số liệu thực tế nào về quy mô biên chế đội ngũ công vụ tại Việt Nam?

Luận án ghi nhận số liệu: Tính đến năm 2021, cả nước có hơn 2,2 triệu người hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước, trong đó lực lượng đông đảo nhất là viên chức với gần 1,79 triệu người. Theo Quyết định ngày 22/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ, tổng biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách của cơ quan hành chính nhà nước và các hội đặc thù là 256.685 người (không bao gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và công chức cấp xã), trong đó biên chế cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước chiếm 247.722 người.

5. Tác giả phân biệt giữa giải pháp nâng cao đạo đức công vụ và giải pháp khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ như thế nào?

Luận án chỉ ra rằng giải pháp nâng cao đạo đức công vụ mang tính bao quát, tổng thể, hướng tới việc bồi dưỡng, nâng tầm các phẩm chất tốt đẹp cho toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức. Trong khi đó, giải pháp ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ có tính khu biệt và trọng tâm hơn, tập trung trực tiếp vào việc chỉ diện, triệt tiêu các nguyên nhân dẫn đến hành vi tiêu cực, sai lệch chuẩn mực, suy thoái và vi phạm kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức trong bộ máy.

Kết luận

Luận án "Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lê Thị Nam An là một công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bằng việc kết hợp phương pháp luận triết học duy vật lịch sử với phương pháp lịch sử - lôgíc và phân tích thực tiễn, luận án đã làm rõ bản chất, đặc điểm, tiêu chí nhận diện hiện tượng lệch chuẩn đạo đức công vụ tiêu cực từ mốc năm 2001 đến năm 2022. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với đổi mới công tác cán bộ, giáo dục tư tưởng và phát huy vai trò kiểm soát của nhân dân.