Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: “Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay”.
- Tác giả: Ngô Thu Hiền
- Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Sỹ Phán
- Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
- Ngành: Triết học
- Chuyên ngành: Đạo đức học
- Mã số: 9 22 90 06
- Năm bảo vệ: 2022
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong cấu trúc nhân cách của người cán bộ, công chức nói chung và công chức ngành Kiểm sát nói riêng, đạo đức được xác định là yếu tố nền tảng. Quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải kết hợp giữa phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn, trong đó "đức là gốc". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên 5 phương diện: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Bên cạnh đa số công chức ngành Kiểm sát giữ vững tinh thần trách nhiệm, tôn trọng nhân dân và hoàn thành tốt nhiệm vụ, thực tiễn hoạt động tư pháp thời gian qua cho thấy vẫn còn một bộ phận công chức chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp. Tình trạng vi phạm pháp luật, tiếp tay cho tiêu cực, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội vẫn còn xảy ra. Văn bản luận án dẫn chứng các vụ án oan sai điển hình trong thực tế như vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn tại Bắc Giang (năm 2003) và vụ án ông Huỳnh Văn Nén tại Bình Thuận (năm 1998). Đồng thời, báo cáo tại phiên họp thứ 15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 15/9/2022 ghi nhận ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội về việc còn 17 trường hợp bị oan trong giai đoạn điều tra, truy tố thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức công vụ và đạo đức nghề nghiệp từ các góc độ luật học, khoa học hành chính hay quản lý nhà nước, nhưng chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát dưới góc độ chuyên ngành Đạo đức học thuộc ngành Triết học.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Bổ sung, phát triển lý luận về đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ này ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục giải quyết.
- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công vụ, đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực trạng đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu đội ngũ công chức ngành Kiểm sát chủ yếu tại hai thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thuộc khu vực miền Bắc.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và phân tích vấn đề đạo đức công vụ của công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam từ năm 2005 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2022).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu có liên quan theo hai nhóm nội dung chính:
Các hướng nghiên cứu đã công bố
1. Nhóm nghiên cứu về lý luận công vụ, công chức và đạo đức công vụ nói chung:
- Về công vụ và công chức: Đỗ Thị Ngọc Lan chủ biên (2012) với cuốn “Nghiên cứu, so sánh quy định về đạo đức công vụ của một số quốc gia và Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia); Thân Minh Quế (2017) với cuốn “Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay” (Nxb Lý luận chính trị); Ngô Thành Can, Lê Thị Hằng, Ngô Văn Trân (2018) với cuốn “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” (Nxb Tư pháp); các bài báo khoa học của Đào Thị Thanh Thủy (2015), Vũ Hoàng Công (2016), Vũ Văn Điệp (2018), Lê Thị Nam An (2021). Các công trình này phân tích bản chất công vụ là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý do công chức thực hiện nhân danh Nhà nước nhằm phục vụ nhân dân.
- Về đạo đức công vụ và đạo đức nghề nghiệp: Tô Tử Hạ, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo (2002) với cuốn “Đạo đức trong nền công vụ”; Nguyễn Hữu Khiển (2003); Lê Thanh Thập (2005); Lê Thị Hằng (2009); Trần Sỹ Phán (2015, 2016, 2017); Huỳnh Văn Thới (2016); Trương Thị Phương Thảo và Trần Viết Quang (2018); Kỷ yếu Hội thảo Khoa học của Học viện Hành chính (2013) về “Đạo đức công chức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”. Các nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp, cũng như ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với chuẩn mực hành vi của công chức.
2. Nhóm nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức công chức ngành Tư pháp và ngành Kiểm sát:
- Về thực trạng: Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo và cộng sự (2011) với công trình “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng, chống suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên”; cuốn sách “Đạo đức nghề luật” (Nxb Tư pháp, 2011) với chương chuyên sâu về kiểm sát viên; các bài viết trên Tạp chí Kiểm sát của Nguyễn Kim Sáu và Phạm Quốc Huy (2018), Tào Thị Quyên và Trần Thị Hương (2018), Lê Văn Đông (2018), Đoàn Nam Đàn (2020), Phạm Vũ Thắng (2020). Các tác giả phản ánh những sai phạm, hiện tượng vòi vĩnh, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ và vi phạm quy chế nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ tư pháp.
- Về giải pháp: Nguyễn Duy Quý, Hoàng Chí Bảo và cộng sự (2006) với cuốn “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề và giải pháp”; Phạm Mạnh Hùng và Phạm Thị Trang (2010); Cao Văn Thống (2012); Nguyễn Duy Hạnh (2014); Trần Quốc Vượng (2015); Lê Minh Trí (2019); bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2015) tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác kiểm sát.
| Nhóm hướng nghiên cứu |
Đại diện tác giả & Công trình tiêu biểu |
Nội dung chính đã đạt được |
| Lý luận công vụ, công chức & ĐĐCV |
Đỗ Thị Ngọc Lan (2012), Thân Minh Quế (2017), Ngô Thành Can (2018), Tô Tử Hạ (2002), Trần Sỹ Phán (2015) |
Làm rõ khái niệm, bản chất quyền lực - pháp lý của công vụ, các chuẩn mực ĐĐCV nói chung và kinh nghiệm quốc tế. |
| Thực trạng ĐĐCV & cán bộ tư pháp |
Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo (2011), Nxb Tư pháp (2011), Lê Văn Đông (2018), Đoàn Nam Đàn (2020) |
Khảo sát tình trạng suy thoái tư tưởng, vi phạm quy tắc ứng xử, các biểu hiện tiêu cực và sai phạm trong hoạt động tư pháp. |
| Giải pháp nâng cao ĐĐCV ngành Kiểm sát |
Nguyễn Duy Quý, Hoàng Chí Bảo (2006), Phạm Mạnh Hùng (2010), Nguyễn Phú Trọng (2015), Lê Minh Trí (2019) |
Đề xuất cơ chế quản lý, giáo dục chính trị tư tưởng, thực hiện 5 đức tính Bác Hồ dạy cán bộ kiểm sát. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình tiếp cận đạo đức công vụ dưới góc độ luật học thực định, khoa học hành chính hoặc chỉ dừng lại ở các bài viết ngắn mang tính nghiệp vụ nội bộ ngành. Chưa có công trình nào nghiên cứu chỉnh thể, có hệ thống về đạo đức công vụ của công chức ngành Kiểm sát từ cơ sở lý luận của Đạo đức học Mác - Lênin, gắn với 5 đức tính của người cán bộ kiểm sát theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn". Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác lập hệ thống chuẩn mực, đánh giá thực trạng trên bình diện đạo đức học và đề xuất các nhóm giải pháp tương ứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và nâng cao đạo đức công vụ.
- Khái niệm công chức: Tác giả sử dụng khái niệm quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), xác định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
- Khái niệm công vụ: Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức, viên chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích của nhà nước, nhân dân và xã hội. Hoạt động công vụ có 6 đặc điểm: (1) Mục đích phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội; (2) Nội dung thực hiện chức năng quản lý và cung ứng dịch vụ công phi lợi nhuận; (3) Chủ thể là cán bộ, công chức, viên chức; (4) Mang tính quyền lực nhà nước hoặc được nhà nước ủy quyền; (5) Tuân thủ thẩm quyền luật định; (6) Mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp.
- Khái niệm đạo đức và đạo đức công vụ: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm đánh giá, điều chỉnh cách ứng xử của con người. Đạo đức công vụ là hệ thống các chuẩn mực, nguyên tắc dùng để điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực thi công vụ. Tác giả luận án khái quát 9 chuẩn mực đạo đức công vụ cốt lõi:
- Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng.
- Có ý thức rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ.
- Giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
- Quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, không hoang mang khi thất bại, không kiêu ngạo khi thắng lợi.
- Trung thực, có chí tiến thủ, tự phê bình và phê bình.
- Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Có tinh thần trách nhiệm cao với công việc.
- Chấp hành nghiêm kỷ luật và có tinh thần sáng tạo.
- Thân ái, hợp tác với đồng nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để chỉ đạo toàn bộ quá trình nghiên cứu, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành định tính:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để phân tích các yếu tố cấu thành đạo đức công vụ, các nhân tố tác động và tổng hợp thực trạng đạo đức công chức kiểm sát.
- Phương pháp lịch sử và lôgíc: Xem xét sự phát triển của các quan niệm về đạo đức, công vụ và quá trình hình thành các chuẩn mực đạo đức ngành Kiểm sát qua các giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể: Luận giải từ các khái niệm đạo đức học chung đến đạo đức nghề nghiệp và đạo đức công vụ đặc thù của kiểm sát viên, kiểm tra viên, điều tra viên.
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Tổng hợp, xử lý thông tin từ các báo cáo tổng kết ngành Kiểm sát, báo cáo phòng chống tham nhũng, số liệu thanh tra, giám sát của Quốc hội và các phản ánh từ cơ quan báo chí, truyền thông.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Các văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 2013, Luật Cán bộ, công chức (2008, sửa đổi 2019), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (2014), Bộ luật Tố tụng hình sự (2015), Quyết định số 296/2008/QĐ-VKSTC ngày 18/6/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát nhân dân.
- Báo cáo tổng kết công tác hằng năm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, báo cáo của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
- Ý kiến tham vấn của các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài ngành Kiểm sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành các tuyến vấn đề: lý luận về công vụ, công chức và đạo đức công vụ; thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức công chức ngành Tư pháp và ngành Kiểm sát.
Tác giả đánh giá giá trị khoa học của các công trình đi trước, đồng thời khẳng định các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ hoặc tiếp cận dưới giác độ luật học. Luận án xác định rõ 3 vấn đề cần tiếp tục giải quyết:
- Tiếp tục hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về đạo đức công vụ của công chức ngành Kiểm sát và các nhân tố tác động.
- Phân tích thực trạng thực thi đạo đức công vụ của công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chương 2: Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng và xác định đặc điểm hoạt động công vụ của công chức ngành Kiểm sát dựa trên Điều 107 Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức VKSND 2014. Chức năng chính của VKSND gồm thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, quyền con người, quyền công dân, chế độ XHCN, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Về mặt nhân sự, luận án dẫn số liệu phê chuẩn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII về cơ cấu biên chế ngành Kiểm sát:
- Tổng biên chế toàn ngành được phê chuẩn: 15.860 người.
- Phân bổ: VKSND tối cao có 920 người (chiếm 5,81%); VKSND cấp tỉnh có 4.353 người (chiếm 27,44%); VKSND cấp huyện có 10.587 người (chiếm 66,75%).
- Biên chế thực hiện tại thời điểm nghiên cứu đạt 14.000 người.
Lực lượng nòng cốt thực thi nhiệm vụ công vụ gồm Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và Điều tra viên. Tác giả phân tích trách nhiệm pháp lý và đạo đức đặc thù của kiểm sát viên theo Điều 59, Điều 84 Luật Tổ chức VKSND 2014 và Điều 43 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (quy định nhiệm vụ của kiểm tra viên).
Chương 2 cũng phân tích 3 nhóm nhân tố tác động đến đạo đức công vụ của công chức ngành Kiểm sát:
- Tác động của môi trường kinh tế - xã hội (mặt tích cực và mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế).
- Tác động từ công tác giáo dục và tự giáo dục đạo đức công vụ của đội ngũ công chức kiểm sát.
- Tác động từ cơ chế, chính sách, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của ngành Kiểm sát.
Chương 3: Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân của thực trạng
Chương 3 đánh giá thực trạng đạo đức công vụ theo 5 nội dung biểu hiện cụ thể:
- Ưu điểm và hạn chế trong việc bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; giữ gìn bí mật Nhà nước, bí mật công tác: Đa số công chức tuân thủ nghiêm pháp luật tố tụng; tuy nhiên vẫn còn hiện tượng làm lộ lọt thông tin, vi phạm quy chế bảo mật.
- Ưu điểm và hạn chế trong việc nêu cao tính tích cực, tự giác, công minh, chính trực, khách quan trong xử lý công việc: Phần lớn kiểm sát viên thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp, nhưng vẫn còn trường hợp thiếu khách quan, dẫn tới phê chuẩn lệnh bắt, truy tố thiếu căn cứ, gây oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
- Ưu điểm và hạn chế trong việc nêu cao tinh thần đoàn kết, hợp tác, chia sẻ với đồng nghiệp: Nội bộ ngành cơ bản giữ vững đoàn kết, nhưng một số đơn vị còn xảy ra tình trạng cục bộ, bè phái.
- Ưu điểm và hạn chế trong việc nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; tôn trọng và chịu sự giám sát của nhân dân: Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo có chuyển biến tích cực, song vẫn còn biểu hiện thờ ơ, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân.
- Ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư: Một bộ phận cán bộ thiếu rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi và đã bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về nguyên nhân thực trạng:
- Nguyên nhân của ưu điểm: Sự lãnh đạo của Đảng, sự hoàn thiện của hệ thống thể chế tư pháp, công tác giáo dục chính trị tư tưởng và ý thức tự giác tu dưỡng của đa số công chức kiểm sát.
- Nguyên nhân của hạn chế: Mặt trái của cơ chế thị trường; hệ thống pháp luật còn bất cập, thiếu đồng bộ; cơ chế kiểm tra, giám sát nội bộ chưa thật sự hiệu quả; chế độ đãi ngộ chưa tương xứng; công tác tự tu dưỡng, rèn luyện của một số cán bộ còn yếu kém.
Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Tạo môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, giảm thiểu các tác động tiêu cực của đồng tiền và lợi ích vật chất đến nhận thức của công chức kiểm sát.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý công chức; tăng cường hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ: Đổi mới quy trình tuyển dụng, đánh giá cán bộ dựa trên năng lực và phẩm chất; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân.
- Tăng cường công tác giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức ngành Kiểm sát: Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy đạo đức học và đạo đức nghề nghiệp tại Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và các cơ sở bồi dưỡng nghiệp vụ; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
- Phát huy nhân tố chủ quan của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát trong việc rèn luyện, nâng cao đạo đức công vụ: Mỗi cán bộ, kiểm sát viên phải nâng cao tinh thần tự soi, tự sửa, tự rèn luyện 5 đức tính: công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án phân tích làm rõ chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động công vụ của ngành Kiểm sát theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức VKSND 2014 dưới góc độ chuyên ngành Đạo đức học.
- Xác định hệ thống 9 chuẩn mực đạo đức công vụ phổ quát của công chức và cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đặc thù của công chức ngành Kiểm sát dựa trên lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh ("Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn").
- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố khách quan (kinh tế thị trường, thể chế, quản lý) và nhân tố chủ quan (tự giáo dục, tự tu dưỡng) tác động đến đạo đức công vụ của kiểm sát viên.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh tổng thể về thực trạng thực thi đạo đức công vụ của công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2022 trên cả hai mặt ưu điểm và hạn chế.
- Chỉ rõ các dạng sai phạm đạo đức nghề nghiệp thông qua các vụ án oan sai điển hình và số liệu giám sát của Quốc hội.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ, có giá trị thực tiễn, góp phần xây dựng đội ngũ công chức kiểm sát đáp ứng yêu cầu Chiến lược cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi khảo sát thực địa: Do điều kiện nghiên cứu, địa bàn khảo sát thực tế tập trung chủ yếu tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Bắc, chưa bao quát đầy đủ các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết của ngành, tài liệu thanh tra và ý kiến chuyên gia; chưa tiến hành khảo sát xã hội học định lượng quy mô lớn trên toàn quốc về mức độ hài lòng của người dân đối với đạo đức công vụ ngành Kiểm sát.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu thực chứng và định lượng về đạo đức công vụ của các chức danh tư pháp cụ thể (Kiểm sát viên các ngạch, Kiểm tra viên, Điều tra viên của Cơ quan điều tra VKSND tối cao) tại các địa bàn đặc thù như miền núi, vùng sâu, vùng xa.
- Nghiên cứu tác động của bối cảnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tố tụng tư pháp đến việc thực thi các chuẩn mực đạo đức công vụ của ngành Kiểm sát.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập các chuyên đề về Đạo đức học, Triết học, Khoa học hành chính, Đạo đức nghề luật tại Học viện Khoa học Xã hội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và các cơ sở đào tạo luật.
- Đối với cơ quan quản lý và lãnh đạo ngành Kiểm sát: Cung cấp cơ sở khoa học để Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục hoàn thiện các quy chế nội bộ, quy tắc ứng xử, tiêu chí đánh giá cán bộ và đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đạo đức công vụ.
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên: Gợi mở khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận đạo đức học mác-xít đối với các nhóm nghề nghiệp công quyền mang tính quyền lực - pháp lý cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục đích nghiên cứu chính của luận án là gì?
Luận án nhằm bổ sung, phát triển lý luận về đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ này ở Việt Nam hiện nay và thời gian tới.
2. Chuẩn mực đạo đức đặc thù của người cán bộ kiểm sát theo Hồ Chí Minh được xác định gồm những đức tính nào?
Đó là 5 đức tính: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn. Đây được xác định là kim chỉ nam trong suốt quá trình tu dưỡng, rèn luyện và thực thi quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của cán bộ kiểm sát.
3. Cơ cấu biên chế ngành Kiểm sát được luận án trích dẫn cụ thể như thế nào?
Theo phê chuẩn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII, biên chế toàn ngành là 15.860 người:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao: 920 người (5,81%).
- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh: 4.353 người (27,44%).
- Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện: 10.587 người (66,75%).
Biên chế thực hiện tại thời điểm nghiên cứu là khoảng 14.000 người.
4. Luận án dẫn chứng các vụ án oan sai điển hình nào để chứng minh cho sự lệch chuẩn đạo đức công vụ?
Luận án dẫn chứng vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn tại Bắc Giang (năm 2003), ông Huỳnh Văn Nén tại Bình Thuận (năm 1998) và dẫn số liệu từ phiên họp thứ 15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 15/9/2022) ghi nhận còn 17 trường hợp bị oan trong giai đoạn điều tra, truy tố thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân.
5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp cơ bản?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản: (1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; (2) Hoàn thiện cơ chế quản lý công chức, tăng cường kiểm tra, giám sát; (3) Tăng cường công tác giáo dục đạo đức công vụ; (4) Phát huy nhân tố chủ quan của công chức kiểm sát trong tự rèn luyện.
Kết luận
Luận án “Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Ngô Thu Hiền là công trình nghiên cứu chuyên ngành Đạo đức học, giải quyết một cách có hệ thống vấn đề đạo đức công vụ trong lĩnh vực thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp. Luận án đã xác lập khung lý luận về đạo đức công vụ ngành Kiểm sát, khảo sát thực trạng ưu điểm và hạn chế trong giai đoạn 2005–2022, đồng thời chỉ ra các nguyên nhân căn bản của thực trạng. Các giải pháp do luận án đề xuất có tính đồng bộ từ thể chế, quản lý, giáo dục đến tự rèn luyện, đóng góp thiết thực cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Kiểm sát liêm chính, công minh theo đường lối cải cách tư pháp của Đảng.