mở đầu triết học cổ điển Đức đặt một cơ sở mới cho đạo đức học làm cho nó mang sắc thái mới, có tính toàn diện. Theo Ông đạo đức là quy luật bên trong mỗi người, mang giá trị nội tại, là một mệnh lệnh tuyệt đối, “đạo đức đưa đến tự do. Vì con người là hữu thể đạo đức nên phải có ý chí tự do” [17, tr. Kant cho rằng tòa án đích thực về trách nhiệm không phải là nhà vua, mà là lý tính, là cơ sở của mệnh lệnh đạo đức tuyệt đối.
Dựa trên nguyên lý trách nhiệm, chủ quan với nghĩa là lương tâm được I.Kant xem xét ở khía cạnh trừng phạt” [17, tr. Trong Tác phẩm chọn lọc (năm 1990) tại Mátxcơva, M. Weber đã lưu ý cần tự ý thức rõ bất kỳ hành vi có định hướng đạo đức đều phải tuân thủ hai quy tắc khác nhau căn bản, trực tiếp đối lập nhau: Nó có thể định hướng hoặc vào đạo đức học tín niệm, hoặc vào đạo đức học giá trị. Khi con người hành động theo đạo đức học tín niệm, thì nó không chịu trách nhiệm về kết quả của chúng.
Khi con người hành động theo nguyên tắc đạo đức học trách nhiệm, thì cần phải trả giá cho hệ quả tiên đoán được của những hành vi của mình. Daisaku Ikeda, Arnold Toynbee trong "Lựa chọn cuộc sống - Đối thoại cho thế kỷ XXI, ấn bản lần thứ I, đề cập đến thiên tai và nhân tai, dịch bệnh toàn cầu, thảm họa ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, vũ khí huỷ diệt hàng loạt, tranh chấp lãnh thổ và biển đảo, khoảng cách giàu nghèo. Nhưng vấn đề là sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây về cách tiếp cận các vấn đề. Phần lớn trả lời đồng ý và giải pháp từ cách tiếp cận của các các giá trị Phương Đông.
Daisaku Ikeda cho là ở Nhật bản "Y học là nhân thuật", là chữa 9 bệnh với lòng nhân ái. Tây y lấy bệnh tật, sự khỏe mạnh làm đối tượng không phải con người làm đối tượng, thì y đức của bác sỹ mờ nhạt, xuống cấp. Tác giả nhấn mạnh giữa đạo đức và sự phát triển của khoa hoc kỹ thuật". khoảng cách giữa kỹ thuật và đạo đức lớn hơn bao giờ hết.
Điều này không chỉ đáng hổ thẹn mà nguy hiểm chết người. sự nghèo nàn trong hành vi đạo đức của chúng ta, nếu so sánh với sự thành công rực rỡ về kỹ thuật, là đáng nhục"[96, tr. Nhóm nghiên cứu về đạo đức ở Việt Nam Nguyễn Trãi, phản ánh nhiều mặt về tư tưởng của đạo làm người, đạo làm quan: Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí, Lam sơn thực lục, Luật thư, Phú núi Chí Linh… Ức Trai đề cao Nho học, phẩm chất cao quý: nhân, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung, dũng, liêm, chính. Đạo làm người, làm quan phải có lòng Nhân nghĩa, - “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời” (Bình Ngô Đại cáo), “Đạo đức hiền lành được mọi phương” (Quốc âm thi tập).
Chuẩn mực đạo đức đó là lẽ sống, mực thước trong ứng xử với nhân dân, địa phương, triều đình khi có 09 năm gắn bó với vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Nhân cách, lối sống Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gương sáng về đạo đức, Người coi đạo đức là gốc, là nền tảng và khẳng định: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, Người có 4 đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Thiếu một mùa thì không thành trời, Thiếu một phương thì không thành đất, Thiếu một đức thì không thành người” [69, tr. Người chỉ huấn về cán bộ "Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Ít lòng ham muốn về vật chất.
Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo.
10 Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Phuc tùng đoàn thể" [72, tr. Hồ Chí Minh trong Sửa đổi lối làm việc, cho "chủ nghĩa cá nhân" là "vi trùng rất độc" nguyên nhân của những thói xấu như: tham lam, lười nhác, kiêu ngạo, ham chức quyền, vô kỷ luật, suy nghĩ nông cạn, thiển cận, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, óc lãnh tụ, bệnh "hữu danh vô thực", bè phái.
Đạo đức cách mạng có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Cụ thể là: NHÂN là chân thành, thật thà, có lòng thương yêu con người, luôn giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp, đồng bào; NGHĨA là thẳng thắn, công tâm, hết mình với công việc, không che giấu khuyết điểm; TRÍ vì không tư lợi, đầu óc trong sáng, vì việc chung, lợi ích Nhân dân. DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa.
LIÊM là không tham địa vị. Tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (năm 1969), CBCC phải tu dưỡng, rèn luyện gian khổ và dù khó khăn đến mấy cũng phải quyết tâm thực hiện, kiên quyết, kiên trì đấu tranh để xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân. Nâng cao đạo đức cách mạng tức là kiên định giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, yêu nước, thương dân, trung thành với Đảng, với tổ quốc. Không được chủ quan, mất cảnh giác, sa đà vào tệ nạn, tiêu cực, vi phạm những chuẩn mực đạo đức.
Một số cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, khó khăn thì tinh thần cách mạng cao, có nhiều đóng góp, những lơ là, không giữ mình, bị cám dỗ tiêu cực trở nên suy thoái, biến chất. Trần Hậu Kiêm, Tập bài giảng Lịch sử đạo đức học, khái quát hình thành, phát triển đạo đức học qua các hình thái kinh tế - xã hội. Phân tích từng giai đoạn lịch sử xã hội, tính đặc thù đạo đức học thông qua các phạm trù: nghĩa vụ, hạnh phúc, lương tâm, cái thiện và cái ác. Đề ra nguyên tắc chuẩn mực hành vi của con người trong từng xã hội nhất định.
Đạo đức trong từng xã hội không hoàn toàn giống nhau, phát triển từ thấp lên cao, qua nhiều giai đoạn lịch sử. Đạo đức học phát triển, tiến bộ và phân nhánh. Giai cấp thống trị truyền bá chuẩn mực đạo đức giai cấp mình làm chuẩn mực cho xã 11 hội nhằm củng cố, bảo vệ sự thống trị. Giai cấp tiên tiến, đại biểu cho xu hướng tiến bộ xã hội, giai cấp lỗi thời quan điểm đạo đức cũng trở nên lỗi thời.
Xã hội XHCN giải phóng con người, giải phóng xã hội, nâng cao lòng yêu nước, phẩm giá con người, vì vậy mang chuẩn mực đạo đức cao đẹp. Tương Lai, Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới “Đạo đức và giáo dục đạo đức là một vấn đề gây nhiều suy nghĩ trong xã hội ta hiện nay… Đạo đức xuất hiện để đáp ứng cái nhu: điều chỉnh hành vi của cá nhân cho phù hợp với lợi ích của toàn xã hội, khắc phục những đụng độ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Vì vậy, đạo đức là phương thức điều hòa mối quan hệ cá nhân và xã hội, xây dựng đạo đức mới bằng sức mạnh vật chất và hệ tư tưởng mới, tiến bộ “tổng hợp của ba cuộc cách mạng để loại bỏ tận gốc đạo đức cũ và tàn dư của nó bám giữ trong cuộc sống chúng ta” [60, tr. Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay, TS.
Nguyễn Thị Thọ lý luận về chuẩn mực đạo đức gia đình, là tế bào xã hội, môi trường, “trường học” đầu tiên và quyết định đến hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức cá nhân, ảnh hưởng lâu dài, toàn diện trong cuộc sống với mỗi cá nhân. Chuẩn mực đạo đức gia đình qua tác động tiêu cực nền kinh tế thị trường, từ đó đưa ra quan điểm định hướng, hoàn thiện giải pháp xây dựng đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay. Trần Văn Bính Xây dựng văn hóa, đạo đức, lối sống của người Việt Nam, đạo đức CBCC có mối quan hệ biện chứng: giá trị đạo đức dân tộc, chuẩn mực đạo đức người cách mạng, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, giá trị đạo đức hiện đại. Sự xuống cấp văn hóa, đạo đức đang là nỗi đau chung của nhiều quốc gia, là vấn đề toàn cầu, nhưng không coi sự xuống cấp đó như một tất yếu lịch sử.
Câu hỏi: Có hay không âm mưu xâm lăng văn hóa, đạo đức? Có chấp nhận xu thế toàn cầu hóa văn hóa, đạo đức không? Trong cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, có chống xu hướng thương mại hóa văn hóa, đạo đức không? 12 1. Nhóm các nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp được nghiên cứu, hoàn thiện cùng với sự phát triển các ngành nghề trong xã hội, là chuẩn mực đạo đức riêng biệt. Các tổ chức, hiệp hội và công ty có những chuẩn mực đạo đức phù hợp với văn hóa nghề nghiệp. Sự tiến bộ xã hội đòi hỏi người làm nghề phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, nhằm đảm trọng dụng tài năng, tôn vinh sản phẩm, mang lại giá trị cho xã hội.
TS Mạch Quang Thắng nhận định: “Đã có không ít người cho rằng, bây giờ chỉ cần có tài, có tài thì ở đâu cũng phát huy được tác dụng tốt, do vậy làm ăn kinh tế không cần đạo đức. Ý kiến đó là sai lầm vì tách đạo đức ra khỏi kinh tế và như vậy làm ăn kinh tế rất dễ đi vào ngõ cụt” [108]. Công chức trong thực thi “nghề đặc biệt – nghề quản lý” với chuẩn mực chính trị, hành chính, cũng thực hiện giá trị đạo đức nghề nghiệp của ngành, lĩnh vực. Nhóm các nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp nước ngoài Nan DeMars với tác phẩm "Cảnh báo! Đây không phải chuyện đùa" (năm 2014), với thông điệp “Liêm chính - làm thế nào để giữ được công việc mà không đánh mất đạo đức nghề nghiệp?” Tình huống cụ thể, khó xử mà nhân viên công sở phải trả lời như: trung thành với ông chủ hay với công ty, tin đồn, quấy rối, tình cảm nơi công sở, giữ phẩm giá trong thực thi nhiệm vụ phức tạp, quản lý thông tin trong môi trường số… xử lý đảm bảo quy tắc đạo đức nghề nghiệp, đúng quy định, quy ước, luật lệ công sở.
Tác giả gúp lựa chọn phương án phù hợp điều kiện, hoàn cảnh trường hợp xung đột. Đạo đức học nghề nghiệp và tâm lý học trong thương nghiệp (năm 1982) I.