Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Đạo Cao Đài trong phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Minh Nhật, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thanh Xuân và TS. Nguyễn Hữu Thụ, tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2026), thuộc chuyên ngành Triết học (mã số 9229001), định hướng nghiên cứu chuyên sâu về Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo số liệu thống kê được tác giả dẫn giải, tính đến năm 2023, Việt Nam có gần 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm gần 28% dân số cả nước, trong đó có 5 tôn giáo đạt quy mô trên 1 triệu tín đồ gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo. Cao Đài là tôn giáo nội sinh với gần 1,24 triệu tín đồ, sở hữu mạng lưới cơ sở thờ tự rộng khắp, chủ yếu tập trung tại Nam Bộ. Vấn đề phát huy nguồn lực tôn giáo phục vụ phát triển đất nước đã được khẳng định rõ nét trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021) và tiếp tục được nhấn mạnh tại văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2026).

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích tự nhiên 34.699 km² (chiếm 10,4% diện tích cả nước) và quy mô dân số khoảng 18 triệu người (chiếm 19% dân số cả nước). Đây là trung tâm sản xuất nông nghiệp, thủy sản trọng điểm, đóng góp 31,37% GDP toàn ngành nông nghiệp, hơn 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% sản lượng trái cây, 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% lượng thủy sản xuất khẩu của quốc gia. Mặc dù giữ vị thế chiến lược, ĐBSCL vẫn đối mặt với nhiều rào cản: trình độ dân trí còn thấp ("vùng trũng tri thức"), phân hóa giàu nghèo gia tăng, sinh kế chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Trong bối cảnh đó, đạo Cao Đài với tư cách là một tôn giáo nội sinh lớn gắn bó gần 100 năm tại vùng đất này có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa, xã hội của cư dân. Tuy nhiên, nguồn lực xã hội của đạo Cao Đài chưa được khơi dậy đồng bộ; công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở một số khía cạnh còn bộc lộ bất cập; đồng thời, các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận đạo Cao Đài dưới góc độ lịch sử, giáo lý hoặc văn hóa đơn thuần mà chưa đặt trong khuôn khổ phân tích phát triển bền vững một cách toàn diện và có hệ thống. Do đó, việc nghiên cứu vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy nguồn lực đạo Cao Đài tại ĐBSCL mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn quản lý xã hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tôn giáo và phát triển bền vững từ lập trường chủ nghĩa Mác – Lênin và kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan, luận án phân tích, đánh giá có căn cứ khoa học về vai trò, những đóng góp, hạn chế và điều kiện phát huy nguồn lực của đạo Cao Đài đối với phát triển bền vững vùng ĐBSCL hiện nay; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp khả thi nhằm phát huy các giá trị văn hóa, nguồn lực kinh tế – xã hội, ý thức bảo vệ môi trường và vai trò củng cố đồng thuận cộng đồng của tôn giáo này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua 3 nội dung:

  • Thứ nhất: Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, khái niệm, cách tiếp cận và tiêu chí phân tích mối quan hệ giữa đạo Cao Đài với phát triển bền vững; làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc, bản chất, chức năng xã hội và tính lịch sử – cụ thể của tôn giáo; xác định các nhân tố tác động đến việc phát huy nguồn lực Cao Đài ở ĐBSCL.
  • Thứ hai: Khảo sát và phân tích thực trạng đóng góp cũng như những hạn chế, điều kiện và vấn đề đặt ra của đạo Cao Đài ở ĐBSCL trên ba phương diện nghiên cứu: (1) văn hóa; (2) kinh tế – xã hội – môi trường; (3) an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội. Đánh giá dựa trên tư liệu, số liệu khảo sát thực tiễn, phân biệt giữa định hướng giáo lý và kết quả hành đạo thực tế.
  • Thứ ba: Phân tích bối cảnh và dự báo xu hướng tác động của đạo Cao Đài đối với phát triển bền vững vùng ĐBSCL; xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng cường phối hợp giữa tổ chức Cao Đài, chính quyền, cộng đồng dân cư và các chủ thể phát triển.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đạo Cao Đài trong phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận dưới góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học, vận dụng quan điểm duy vật lịch sử. Để phản ánh đặc thù khu vực, thay vì dùng ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường độc lập, luận án xác lập khung phân tích liên hoàn gồm 3 phương diện: (1) Văn hóa; (2) Kinh tế – xã hội – môi trường; (3) An ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội. Khảo sát bao hàm các hệ phái thuộc Tổ chức Liên giao Cao Đài (18 Hội thánh), các tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập và hệ phái Cao Đài Tây Ninh tại ĐBSCL.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trọng điểm tại 4 địa phương thuộc ĐBSCL: Thành phố Cần Thơ, tỉnh Cà Mau, tỉnh An Giang và tỉnh Vĩnh Long. Luận án giải trình rõ việc xác định địa bàn sau mốc điều chỉnh địa giới hành chính ngày 12/6/2025: Cần Thơ (cũ), Cà Mau (cũ), An Giang (bao gồm Kiên Giang cũ), Vĩnh Long (bao gồm Bến Tre cũ). Bốn địa bàn này tập trung đông tín đồ và đặt trụ sở trung ương của các hệ phái tiêu biểu: Cần Thơ (gần 10 vạn tín đồ, đặt trụ sở Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi); Cà Mau (hơn 17 vạn tín đồ, đặt trụ sở Cao Đài Minh Chơn Đạo); Vĩnh Long (hơn 40 vạn tín đồ, đặt trụ sở Cao Đài Ban Chỉnh Đạo và Cao Đài Tiên Thiên); An Giang (hơn 6 vạn tín đồ, đặt trụ sở Cao Đài Bạch Y).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu từ năm 2018 đến hiện nay (năm 2026). Điểm mốc 2018 gắn liền với việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 18-CT/TW ngày 10/01/2018 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; đồng thời bám sát báo cáo năm 2022 tổng kết 30 năm thực hiện Thông báo 34/TB-TW ngày 14/11/1992 của Ban Bí thư về chủ trương công tác đối với đạo Cao Đài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân chia và hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo 2 nhóm chủ đề chính:

Nhóm các công trình về lịch sử hình thành, quá trình phát triển của đạo Cao Đài

  • Tài liệu học giả nước ngoài: G. Coulet (1929) trong Cultes et Religions de l’Indochine An-namite phân tích bối cảnh xã hội hỗn dung và tính khoan dung tôn giáo của cư dân Nam Bộ, chỉ ra sự kết hợp giữa thuật cầu cơ phương Đông và chiêu hồn phương Tây trong đạo Cao Đài. Vilmont và Lalaurette (1933) trong Le Caodaisme sử dụng hồ sơ cảnh sát, mật thám Pháp để ghi chép về các nhân vật sáng lập và thái độ của chính quyền thuộc địa. Gabriel Gobron (1950) trong Histoire du Caodaïsme coi Cao Đài là một phong trào cải cách Phật giáo và tổng hợp tâm linh. Sergei Blagov (1991, 2001) trong The Caodai: A new religious movement và Caodaism: Vietnamese traditionalism and its leap into modernity phân tích đạo Cao Đài dưới góc độ phong trào tôn giáo mới, sự xung đột giữa văn minh phương Tây và truyền thống phương Đông cùng những chuyển biến tổ chức qua các giai đoạn 1927–1975 và sau năm 1975. Sang Teak Lee (1996) xem xét Cao Đài trong khuôn khổ so sánh các phong trào thiên niên kỷ ở châu Á.
  • Tài liệu học giả và chức sắc trong nước: Đào Trinh Nhất (1929) với Cái án Cao Đài đưa ra nhận định phê phán tính hỗn tạp giáo lý; Băng Thanh (1930) trong Cải án Cao Đài phản biện lại quan điểm trên và khẳng định giá trị Tam giáo quy nguyên. Nguyễn Trung Hậu (1930) trong Đại đạo căn nguyên và Quyền Giáo tông Lê Văn Trung (1964) trong Phương châm hành đạo cung cấp tư liệu lịch sử, giáo luật và quy chuẩn tu tập của Tòa Thánh Tây Ninh. Trần Văn Giàu (1975) trong Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (Tập II) nhận định đạo Cao Đài bắt nguồn từ tục đồng cốt cầu tiên, có tính chất dung hợp tôn giáo và mang ý nghĩa chính trị gián tiếp. Huệ Minh (1991) viết Tìm hiểu đạo Cao Đài qua tám nhận định. Đặng Nghiêm Vạn (1995) trong Bước đầu tìm hiểu về đạo Cao Đài luận giải tính chất nhập thế và sự gắn kết với tâm lý nông dân Nam Bộ. Nguyễn Long Thành (1996) tìm hiểu Đời sống của người tín đồ Cao Đài. Phan Văn Hoàng (2001) với Cao Triều Phát - Nghĩa khí Nam Bộ làm rõ vai trò của Cao Đài Minh Chơn Đạo và phong trào Cao Đài Cứu quốc (1947–1954). Phạm Bích Hợp (2007) phân tích cơ bút như tiền đề hình thành tôn giáo bản địa. Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo (2008) xuất bản 2 tập Lịch sử Đạo Cao Đài hệ thống hóa quá trình phân rẽ chi phái 1926–1938. Huỳnh Thị Phương Trang (2008), Huỳnh Ngọc Thu (2009), Nguyễn Thanh Xuân (2011), Huệ Khải (2011), Nguyễn Mạnh Tiến (2015), Nguyễn Văn Trung (2015), Đinh Quang Tiến (2017) và nghiên cứu cấp Bộ của Nguyễn Thị Quế Hương (2024) tiếp tục phân tích đạo Cao Đài từ góc độ văn hóa, nhân học, lịch sử và thích ứng xã hội.

Nhóm công trình về đóng góp và giải pháp của tôn giáo đối với phát triển bền vững

  • Nghiên cứu quốc tế: Werner Jayne Susan (1976) trong luận án tại Đại học Yale nghiên cứu khía cạnh chính trị và phong trào nông dân của đạo Cao Đài. Thiên Ninh Hương (2011) nghiên cứu cộng đồng tín đồ Cao Đài tại Campuchia. Jeremy Jammes (2014) khảo sát mạng lưới tín đồ Cao Đài ở hải ngoại. Rita D. Sherma và Purushottama Bilimoria (2022) trong Religion and Sustainability tiếp cận nguồn lực liên tôn giáo đối với tính bền vững sinh thái và công bằng xã hội.
  • Nghiên cứu trong nước: Đinh Hồng Phúc (2013) nghiên cứu giáo lý Cao Đài dưới lăng kính kinh tế học tôn giáo của Max Weber; Nguyễn Công Trí (2019) phân tích thách thức văn hóa của đạo Cao Đài trong xã hội hiện đại; Đinh Quang Tiến (2021) khái quát 8 giá trị văn hóa của Cao Đài; Huỳnh Ngọc Thu (2022) phân tích hoạt động từ thiện và cơ chế tạo lập "công quả" của tín đồ tại ĐBSCL; Nguyễn Thị Lan Hương (2019) khảo sát giải pháp của các tôn giáo Tây Nam Bộ trong ứng phó biến đổi khí hậu.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Từ việc tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra 5 khoảng trống lý luận và thực tiễn:

  1. Các nghiên cứu trước phần lớn tập trung vào lịch sử, tổ chức, giáo lý hoặc quan hệ chính trị; chưa phân tích đạo Cao Đài trong mối quan hệ hữu cơ với mục tiêu phát triển bền vững tại ĐBSCL như một đối tượng nghiên cứu trung tâm, xuyên suốt.
  2. Các công trình thường tách rời từng lĩnh vực riêng lẻ (hoặc chỉ văn hóa, hoặc chỉ từ thiện, hoặc chỉ an ninh), thiếu một khung phân tích liên ngành tích hợp ba phương diện: văn hóa; kinh tế – xã hội – môi trường; an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội.
  3. Chưa làm rõ đầy đủ sự chuyển biến và thích ứng về phương thức tổ chức, hành đạo của các hệ phái Cao Đài trước những thách thức phát triển đương đại (đô thị hóa, sinh kế nông nghiệp suy giảm, biến đổi khí hậu).
  4. Chưa phản ánh toàn diện tính đặc thù và đa dạng của các hệ phái Cao Đài tại ĐBSCL (với 8 hệ phái đặt trụ sở tại vùng) gắn với những biến đổi thực tế sau sáp nhập đơn vị hành chính.
  5. Chưa đặt việc phát huy mặt tích cực và kiểm soát, hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo trên cùng một nền tảng đánh giá khách quan, biện chứng dựa trên cứ liệu thực chứng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo làm cơ sở phương pháp luận. Quan điểm Mác-xít nhìn nhận tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội có tính lịch sử, phản ánh tồn tại xã hội nhưng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đời sống kinh tế - xã hội.

Khung phân tích của luận án cấu thành từ 3 phương diện:

  • Phương diện văn hóa: Đánh giá sự bảo tồn các giá trị đạo đức truyền thống (Tam cương, Ngũ thường, Tứ đại điều quy), nghi lễ vòng đời (Lễ Thế đạo), lễ hội tôn giáo (Lễ Thiên đạo), di sản kiến trúc Thánh thất và khả năng cố kết cộng đồng.
  • Phương diện kinh tế – xã hội – môi trường: Đánh giá việc huy động nguồn lực từ thiện nhân đạo, y tế dân tộc (phòng thuốc nam), cứu trợ thiên tai, đóng góp xây dựng nông thôn mới (cầu đường, trường học), lối sống giản dị tiết kiệm và các mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu.
  • Phương diện an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội: Đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của tín đồ, mô hình "xóm đạo tự quản", sự gắn kết khối đại đoàn kết dân tộc, quan hệ đối thoại giữa tổ chức giáo hội với chính quyền và công tác phòng ngừa nguy cơ bị lợi dụng tôn giáo.

Luận án đồng thời phân tích hệ thống giáo lý đặc thù: triết lý "Tam giáo đồng nguyên", "Vạn giáo nhất lý", "Quy nguyên Tam giáo" (Phật, Lão, Nho) và "Hiệp nhất Ngũ chi" (Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo); cùng cấu trúc tổ chức phỏng theo mô hình thể chế quân chủ lập hiến dung hợp tư tưởng dân chủ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập và khảo cứu các văn bản kinh điển Cao Đài (Tân luật, Pháp Chánh truyền, Thánh ngôn hiệp tuyển, Kinh Thiên đạo, Kinh Thế đạo), văn kiện của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững, các nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 25-NQ/TW, Chỉ thị 18-CT/TW, Thông báo 34/TB-TW, Văn kiện Đại hội XIII, XIV) và báo cáo công tác tôn giáo tại ĐBSCL.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện phát 500 phiếu điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc gồm 32 câu hỏi trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố (Cần Thơ, Cà Mau, An Giang, Vĩnh Long). Tổng số phiếu thu về hợp lệ là 477 phiếu (23 phiếu không hợp lệ). Cơ cấu mẫu điều tra được phân tầng theo 3 nhóm đối tượng:
Nhóm đối tượng khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu hợp lệ Tỷ lệ thu hồi hợp lệ Địa bàn phân bổ phiếu
Cán bộ làm công tác tôn giáo, mặt trận, dân vận 100 98 98,0% Vĩnh Long: 40; Cần Thơ: 30; An Giang: 30; Cà Mau: 30 (chỉ tiêu phân bổ theo quy mô)
Chức sắc, chức việc Cao Đài 100 94 94,0% Phân bổ ngẫu nhiên thuộc Liên giao Cao Đài và Cao Đài Tây Ninh tại 4 địa phương
Tín đồ đạo Cao Đài 300 285 95,0% Phân bổ ngẫu nhiên cho tín đồ các hệ phái tại 4 địa phương
Tổng cộng 500 477 95,4% 4 tỉnh/thành phố ĐBSCL
  • Phương pháp điền dã và quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa tại Tòa thánh, Thánh thất, Thánh tịnh của các hệ phái; tham dự các ngày lễ tôn giáo lớn như Đại lễ Vía Đức Chí Tôn (mùng 9 tháng Giêng), Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung (rằm tháng Tám), Lễ Thượng nguyên, Lễ Trung nguyên, Lễ Hạ nguyên; khảo sát các mô hình lao động sản xuất, phòng thuốc nam miễn phí và phong trào xóm đạo tự quản tại cơ sở.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu 35 cá nhân theo bảng hướng dẫn bán cấu trúc (dưới 30 câu hỏi) nhằm thu thập thông tin định tính chuyên sâu. Mẫu phỏng vấn có chủ đích phân bổ theo cơ cấu:
STT Nhóm tiêu chí Đặc điểm đối tượng Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Giới tính Nam 18 51,0
2 Nữ 17 49,0
3 Độ tuổi Trên 60 tuổi 12 34,0
4 Từ 18 đến 59 tuổi 23 66,0
5 Thành phần xã hội Chức sắc (Đầu sư, Phối sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh) 6 17,0
6 Tín đồ 20 57,0
7 Cán bộ quản lý tôn giáo địa phương và nhà khoa học 9 (5 cán bộ, 4 nhà khoa học) 26,0
8 Trình độ học vấn Phổ thông trung học 20 57,0
9 Trung cấp 3 9,0
10 Cao đẳng 2 6,0
11 Đại học 8 22,0
12 Sau đại học 2 6,0
Tổng 35 100,0

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này dành 42 trang để hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đạo Cao Đài và phát triển bền vững từ năm 1929 đến năm 2024. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành hai mảng lớn: lịch sử - giáo lý - văn hóa và vai trò kinh tế - xã hội - môi trường. Luận điểm trọng tâm của chương là chỉ rõ sự thiếu vắng các công trình đánh giá tổng thể mối quan hệ tương hỗ giữa đạo Cao Đài và tiến trình phát triển bền vững ở ĐBSCL theo cách tiếp cận khoa học xã hội liên ngành. Chương 1 xác lập cơ sở để định hình 5 vấn đề cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết: cơ sở lý luận thực tiễn, phân tích đặc điểm và nhân tố tác động, khung tiêu chí ba phương diện, đánh giá thực trạng khách quan và đề xuất dự báo giải pháp.

Chương 2: Đạo Cao Đài trong phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Một số vấn đề lý luận

Chương 2 (từ trang 43 đến trang 90) làm rõ các khái niệm công cụ, bản chất của đạo Cao Đài và mối quan hệ giữa tôn giáo với phát triển bền vững. Tác giả luận giải:

  • Bản chất đạo Cao Đài: Ra đời năm 1926 tại Tây Ninh, có tính chất dung hợp tôn giáo ("Tam giáo đồng nguyên", "Vạn giáo nhất lý"), tổ chức chặt chẽ theo mô hình kết hợp giáo quyền và hành chính đạo, mang tính nhập thế sâu sắc gắn liền với đặc trưng văn hóa Nam Bộ. Tính đến năm 2023, tôn giáo này có gần 1,24 triệu tín đồ, 10 Hội thánh được công nhận, 21 tổ chức độc lập, 1 pháp môn đăng ký hoạt động, 13.000 chức việc, 65 Ban Đại diện và gần 1.300 cơ sở thờ tự; mỗi năm có thêm hơn 4.000 tín đồ mới, cùng hơn 30.000 tín đồ tại hải ngoại.
  • Mối liên hệ với phát triển bền vững: Luận án phân tích cách thức giáo lý đạo đức (Ngũ giới cấm, Tứ đại điều quy, ăn chay, làm lành lánh dữ) chuyển hóa thành hành vi xã hội tích cực. Khung phân tích 3 phương diện được luận chứng cụ thể về mặt lý luận.
  • Các nhân tố tác động: Nhận diện các yếu tố lịch sử phân hóa chi phái (18 Hội thánh trong Tổ chức Liên giao Cao Đài và nhánh Tây Ninh), đặc điểm kinh tế - tự nhiên vùng sông nước, tác động của biến đổi khí hậu và chính sách tôn giáo của Nhà nước đối với việc giải phóng nguồn lực tôn giáo.

Chương 3: Đạo Cao Đài trong phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay – Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 3 (từ trang 91 đến trang 152) trình bày kết quả phân tích thực chứng từ khảo sát 477 phiếu và 35 phỏng vấn sâu tại Cần Thơ, Cà Mau, An Giang, Vĩnh Long:

  • Phương diện văn hóa: Đạo Cao Đài góp phần bảo tồn lối sống nghĩa tình, chuẩn mực đạo đức gia đình và cộng đồng cư dân Nam Bộ. Lễ Thiên đạo và Lễ Thế đạo (đặc biệt là lễ tang trang nghiêm, tiết kiệm) tạo sự cố kết xóm giềng. Các kiến trúc Thánh thất trở thành điểm nhấn văn hóa tâm linh.
  • Phương diện kinh tế, xã hội, môi trường: Đóng góp thực tế nổi bật qua hệ thống từ thiện xã hội. Hàng trăm phòng thuốc nam châm cứu miễn phí của các họ đạo khám chữa bệnh cho người nghèo; hoạt động cứu trợ bão lũ, xây nhà tình thương, bắc cầu bê tông nông thôn, làm đường liên ấp theo tiêu chí Nông thôn mới. Về môi trường, lối sống ăn chay, tinh thần tôn trọng thiên nhiên và các phong trào trồng cây, thu gom rác thải quanh khuôn viên cơ sở thờ tự hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu bảo vệ sinh thái vùng trước biến đổi khí hậu.
  • Phương diện an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Khảo sát khẳng định đa số tín đồ tuân thủ pháp luật, sống "tốt đời đẹp đạo", tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và mô hình khu dân cư tự quản không có tệ nạn xã hội.
  • Những vấn đề đặt ra: Hoạt động từ thiện còn mang tính tự phát, thiếu tính chuyên nghiệp và nguồn tài chính dài hạn; cơ cấu tổ chức một số hệ phái có dấu hiệu lão hóa chức sắc; trình độ học vấn của phần lớn tín đồ còn hạn chế (57% trình độ phổ thông); năng lực quản lý nhà nước về tôn giáo ở cấp cơ sở đôi chỗ chưa theo kịp thực tiễn; còn tiềm ẩn nguy cơ các thế lực cực đoan lợi dụng danh nghĩa tôn giáo gây mất ổn định an ninh trật tự.

Chương 4: Xu hướng, quan điểm và giải pháp nhằm phát huy các giá trị của đạo Cao Đài trong phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

Chương 4 (từ trang 153 đến trang 188) đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ kết quả khảo sát:

  • Dự báo xu hướng: Xu hướng thế tục hóa và xã hội hóa hoạt động tôn giáo gia tăng; nhu cầu mở rộng hoạt động thiện nguyện gắn với an sinh xã hội chuyên nghiệp; sự gia tăng kết nối giữa các hệ phái trong khối Liên giao và với Cao Đài Tây Ninh; xu thế tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu rõ nét hơn.
  • Quan điểm chỉ đạo: Quán triệt quan điểm của Đảng về nguồn lực tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng; kết hợp chặt chẽ giữa phát huy giá trị tích cực với chủ động phòng ngừa các biểu hiện lệch lạc, vi phạm pháp luật.
  • Hệ thống giải pháp cơ bản:
    1. Nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị và xã hội về nguồn lực của đạo Cao Đài trong phát triển bền vững.
    2. Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để các tổ chức Cao Đài tham gia cung ứng dịch vụ y tế, từ thiện, giáo dục và bảo trợ xã hội.
    3. Hướng dẫn, hỗ trợ các Hội thánh, họ đạo đổi mới phương thức hoạt động xã hội, nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch tài chính trong các hoạt động thiện nguyện và xây dựng nông thôn mới.
    4. Đẩy mạnh công tác phối hợp giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc với chức sắc, chức việc trong việc tuyên truyền pháp luật, giữ gìn an ninh trật tự và ứng phó biến đổi khí hậu tại ĐBSCL.
    5. Xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ, chủ động nắm bắt tâm tư nguyện vọng của tín đồ, giải quyết kịp thời các vướng mắc về đất đai, cơ sở thờ tự nhằm củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học

Luận án tự xác định ba đóng góp mới chủ yếu:

  • Một là: Xây dựng và làm rõ hệ tiêu chí đánh giá vai trò của đạo Cao Đài trong phát triển bền vững vùng ĐBSCL dựa trên khung phân tích tích hợp 3 phương diện: (1) văn hóa; (2) kinh tế – xã hội – môi trường; (3) an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội. Khung này khắc phục sự chia cắt của các nghiên cứu trước, phản ánh đúng đặc thù tôn giáo nội sinh tại vùng Tây Nam Bộ.
  • Hai là: Làm rõ thực trạng tham gia của đạo Cao Đài đối với phát triển bền vững tại 4 địa bàn trọng điểm của ĐBSCL thông qua hệ thống dữ liệu thực nghiệm (khảo sát 477 phiếu và phỏng vấn sâu 35 trường hợp); phân tích rõ mối quan hệ giữa định hướng giáo lý và hành vi thực tế, chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân thực tế.
  • Ba là: Đưa ra dự báo khoa học về 4 xu hướng vận động của đạo Cao Đài; từ đó luận chứng và đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị chính sách toàn diện, khả thi nhằm phát huy các giá trị đạo đức, nguồn lực an sinh xã hội, bảo vệ môi trường của đạo Cao Đài, đồng thời bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại ĐBSCL.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án kiến nghị Đảng và Nhà nước tiếp tục thể chế hóa chủ trương về nguồn lực tôn giáo; đề nghị chính quyền các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL tạo điều kiện thành lập các cơ sở bảo trợ xã hội, phòng khám y học cổ truyền do tổ chức Cao Đài quản lý; khuyến nghị các Hội thánh Cao Đài chú trọng đào tạo bồi dưỡng thế hệ chức sắc trẻ có trình độ học vấn, am hiểu pháp luật, tăng cường tinh thần liên giao và đoàn kết nội bộ tôn giáo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do những biến động về địa giới hành chính (các đợt sáp nhập tỉnh, thành phố năm 2025) và phạm vi nghiên cứu tập trung tại 4 địa phương đại diện (Cần Thơ, Cà Mau, An Giang, Vĩnh Long), nguồn dữ liệu định lượng của luận án chưa bao quát toàn bộ 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL. Bên cạnh đó, luận án chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2026, nên các biến số dài hạn về sự thay đổi sinh kế tín đồ dưới áp lực biến đổi khí hậu chưa được lượng hóa bằng các mô hình kinh tế lượng chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng địa bàn khảo sát sang các tỉnh vùng ven biển Đông và Tây của ĐBSCL; thực hiện nghiên cứu so sánh nguồn lực xã hội của đạo Cao Đài với các tôn giáo nội sinh khác trong vùng như Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương; hoặc đi sâu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội cụ thể của hệ thống y tế thiện nguyện (phòng thuốc nam) Cao Đài trong mạng lưới an sinh xã hội cấp cơ sở.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tôn giáo học, Văn hóa học và Xã hội học. Luận án đồng thời cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo tại các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL trong công tác hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Khung lý thuyết và tiêu chí phân tích 3 phương diện về nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững vùng.
    • Bộ tư liệu khảo cứu toàn diện về các ấn phẩm lịch sử, nghiên cứu đạo Cao Đài từ năm 1929 đến năm 2024 ở Chương 1.
    • Bộ số liệu điều tra xã hội học thực chứng (477 phiếu khảo sát, bảng cơ cấu phỏng vấn sâu 35 mẫu) phản ánh trung thực đời sống tôn giáo và ý thức xã hội của chức sắc, tín đồ Cao Đài tại miền Tây Nam Bộ ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung phân tích ba phương diện của luận án có điểm gì khác biệt so với ba trụ cột phát triển bền vững truyền thống?

Thông thường, phát triển bền vững được tiếp cận qua ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Luận án điều chỉnh thành khung 3 phương diện: (1) Văn hóa; (2) Kinh tế – xã hội – môi trường; (3) An ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội. Sự điều chỉnh này xuất phát từ đặc thù của đạo Cao Đài tại ĐBSCL: văn hóa là nơi lưu giữ đạo đức, nghi lễ và lối sống gắn kết cộng đồng; kinh tế, xã hội và môi trường được gộp lại vì hoạt động của đạo chủ yếu thể hiện qua từ thiện, an sinh, sinh kế nhỏ và lối sống thích ứng thiên nhiên; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được tách thành phương diện riêng do tính lịch sử phức tạp của các hệ phái và yêu cầu bảo đảm ổn định chính trị ở vùng biên giới, đa dân tộc.

2. Dữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án được thực hiện với quy mô và cơ cấu mẫu như thế nào?

Dữ liệu thực nghiệm của luận án bao gồm hai nguồn chính:

  • Khảo sát bằng bảng hỏi: Phát ra 500 phiếu với 32 câu hỏi, thu về 477 phiếu hợp lệ (23 phiếu hỏng). Mẫu phân tầng gồm: 98 cán bộ làm công tác tôn giáo/chính trị - xã hội (Vĩnh Long 40 phiếu, Cần Thơ 30 phiếu, An Giang 30 phiếu, Cà Mau 30 phiếu); 94 chức sắc, chức việc; 285 tín đồ thuộc các hệ phái Liên giao và Tây Ninh.
  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 35 đối tượng với bảng hỏi bán cấu trúc dưới 30 câu hỏi, gồm 18 nam (51%), 17 nữ (49%); 12 người trên 60 tuổi (34%), 23 người từ 18–59 tuổi (66%); thành phần gồm 6 chức sắc (17%), 20 tín đồ (57%), 9 cán bộ quản lý và nhà khoa học (26%); trình độ học vấn trải từ phổ thông trung học (57%) đến sau đại học (6%).

3. Quy mô tín đồ và hệ thống tổ chức của đạo Cao Đài được văn bản ghi nhận với những con số cụ thể nào?

Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ năm 2023 được luận án trích dẫn, đạo Cao Đài có gần 1,24 triệu tín đồ, mỗi năm có thêm hơn 4.000 tín đồ mới, và có hơn 30.000 tín đồ sinh hoạt tại hải ngoại (Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Campuchia, Hàn Quốc). Toàn đạo có 10 Hội thánh được Nhà nước công nhận tổ chức tôn giáo, 21 tổ chức hoạt động độc lập, 1 pháp môn được cấp đăng ký hoạt động; mạng lưới gồm 13.000 chức việc, 65 Ban Đại diện họ đạo và gần 1.300 cơ sở thờ tự, tập trung chủ yếu tại khu vực Nam Bộ.

4. Vì sao luận án lựa chọn khảo sát trọng điểm tại 4 địa bàn: Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và An Giang?

Tác giả lựa chọn 4 địa phương này vì số lượng tín đồ tập trung đông đảo và là nơi đặt trụ sở trung ương của các hệ phái Cao Đài lớn đại diện cho các đường hướng tu tập khác nhau tại ĐBSCL:

  • Thành phố Cần Thơ: Gần 10 vạn tín đồ, đặt trụ sở trung ương của Hội thánh Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi.
  • Tỉnh Cà Mau: Hơn 17 vạn tín đồ, đặt trụ sở trung ương của Hội thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo.
  • Tỉnh Vĩnh Long (sau sáp nhập gồm Bến Tre cũ): Hơn 40 vạn tín đồ, đặt trụ sở trung ương của Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo và Cao Đài Tiên Thiên.
  • Tỉnh An Giang (sau sáp nhập gồm Kiên Giang cũ): Hơn 6 vạn tín đồ, đặt trụ sở trung ương của Hội thánh Cao Đài Bạch Y.

5. Những đóng góp thực tế nổi bật nhất của đạo Cao Đài trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường tại ĐBSCL được luận án chỉ ra là gì?

Luận án ghi nhận sự tham gia của đạo Cao Đài vào phát triển bền vững qua ba hoạt động cụ thể: một là, an sinh xã hội và y tế nhân đạo thông qua hệ thống các phòng thuốc nam châm cứu miễn phí tại các Thánh thất, khám chữa bệnh cho người nghèo; hai là, huy động công sức và kinh phí của tín đồ xây dựng cầu giao thông nông thôn, đường liên ấp, nhà đại đoàn kết hỗ trợ chương trình xây dựng Nông thôn mới; ba là, phổ biến lối sống giản dị, ăn chay định kỳ hoặc trường chay, bảo vệ nguồn nước và môi trường tự nhiên, góp phần hỗ trợ cộng đồng dân cư thích ứng với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu tại đồng bằng.

Kết luận

Luận án của tác giả Trần Minh Nhật là công trình nghiên cứu chuyên khảo về vai trò của đạo Cao Đài trong tiến trình phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học. Bằng việc kết hợp giữa phương pháp luận duy vật lịch sử với hệ thống dữ liệu thực nghiệm gồm 477 phiếu khảo sát và 35 phỏng vấn sâu, luận án đã làm rõ các đóng góp cụ thể về văn hóa, xã hội, môi trường và trật tự an ninh, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong phương thức tổ chức và công tác quản lý hiện hành. Hệ thống các giải pháp và kiến nghị được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào việc thực thi chính sách tôn giáo và chiến lược phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay.