Lịch sử triết học Ấn Độ: Kinh văn của các trường phái triết học Ấn Độ - Doãn Chính chủ biên

Tài liệu Lịch sử triết học Ấn Độ giới thiệu hệ thống kinh văn, tư tưởng các trường phái triết học chính thống và không chính thống do Doãn Chính chủ biên.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết học

Tác giả

Doãn Chính, Vũ Quang Hà, Châu Văn Ninh và cộng sự

Thể loại

Sách chuyên khảo
625
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lịch sử triết học Ấn Độ qua kinh văn Doãn Chính

Triết học Ấn Độ giữ vị trí quan trọng trong dòng chảy văn hóa nhân loại. Cuốn sách Lịch sử triết học Ấn Độ: Kinh văn các trường phái triết học Ấn Độ do Tiến sĩ Doãn Chính chủ biên là một tài liệu học thuật giá trị. Bộ sách này được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam dịch thuật và hệ thống hóa kinh văn Ấn Độ một cách quy mô. Tư tưởng triết lý đạo đức phương Đông có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa Việt Nam. Cuốn sách đáp ứng nhu cầu nghiên cứu học thuật của sinh viên và giảng viên đại học. Nhóm tác giả gồm các nhà nghiên cứu uy tín thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tác phẩm mở ra góc nhìn chân xác về nền triết học thâm trầm. Độc giả tiếp cận trực tiếp các bản dịch kinh điển thay vì chỉ đọc tài liệu diễn giải thứ cấp. Nội dung sách dung hòa giữa tính lịch sử và giá trị triết học thuần túy. Việc công bố công trình tạo tiền đề vững chắc cho việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc.

1.1. Bối cảnh ra đời của bộ sách kinh văn Ấn Độ

Nghiên cứu văn hóa Ấn Độ là nhiệm vụ quan trọng trong đào tạo khoa học xã hội. Triết học phương Đông có mối liên hệ mật thiết với đời sống tinh thần phương Đông. Tinh thần nghị quyết Trung ương đề ra chủ trương tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Công trình ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tư liệu bản dịch chuẩn xác. Trước đây, nguồn tư liệu tiếng Việt về kinh văn Ấn Độ còn nhiều phân tán. Tiến sĩ Doãn Chính cùng các cộng sự đã dành nhiều tâm huyết tuyển chọn. Đội ngũ biên soạn gồm các chuyên gia triết học và xã hội học hàng đầu. Bộ sách cung cấp nguồn tham khảo đáng tin cậy cho giới học thuật. Nhờ đó, việc tìm hiểu tư tưởng cổ xưa trở nên thuận lợi và bài bản hơn.

1.2. Kết cấu nội dung hai phần cơ bản của tác phẩm

Tác phẩm có cấu trúc rõ ràng qua hai phần nội dung chính. Phần thứ nhất tập trung vào thời kỳ Anh hùng ca. Phần này dịch và giới thiệu ba bộ tác phẩm lớn: luật Manu, luận văn chính trị Artha-Sastra và trường ca thiêng liêng Bhagavad Gita. Phần thứ hai trình bày tư tưởng của các hệ thống triết học đa dạng. Đó là ba trường phái không chính thống gồm Carvaka, Jainism và Buddhism. Đồng thời, sách giới thiệu sáu trường phái chính thống là Nyaya, Vaisesika, Samkhya, Yoga, Purva Mimamsa và Vedanta. Trước mỗi bản dịch, các tác giả đều viết lời giới thiệu khái quát. Cách bố cục này giúp người đọc nắm bắt mạch tư tưởng tổng thể một cách mạch lạc.

II. Phân tích lịch sử triết học Ấn Độ và các vấn đề tư tưởng lớn

Tư tưởng Ấn Độ cổ đại phản ánh những trăn trở sâu sắc về kiếp nhân sinh. Con người đối diện với số phận, trách nhiệm và con đường giải thoát khỏi đau khổ. Đỉnh cao của xung đột nội tâm thể hiện rõ qua đối thoại giữa Arjuna và thần Krishna. Cuộc chiến Kurukshetra đặt người chiến binh vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Bổn phận chiến đấu mâu thuẫn với tình cảm huyết thống và đạo đức xã hội. Nỗi đau khổ thiêu đốt tâm can khiến con người rơi vào trạng thái bế tắc. Triết học Ấn Độ không né tránh bi kịch này. Ngược lại, tư tưởng kinh văn phân tích sâu sắc căn nguyên của chấp niệm. Bản ngã và sự ràng buộc ích kỷ là nguồn gốc sinh ra phiền não. Sự sống và cái chết nối tiếp nhau theo quy luật luân hồi vô tận. Các trường phái tư tưởng đưa ra nhiều kiến giải khác nhau để vượt qua khổ đau. Hệ thống không chính thống bác bỏ uy quyền thánh kinh Veda. Trong khi đó, hệ thống chính thống tìm kiếm sự hòa hợp giữa linh hồn cá nhân và vũ trụ.

2.1. Bi kịch đạo đức và hành động trong Bhagavad Gita

Bhagavad Gita mở đầu bằng sự hoang mang tột cùng của chiến binh Arjuna. Trước trận chiến sinh tử, Arjuna chứng kiến người thân và thầy dạy đứng ở chiến tuyến bên kia. Nỗi xót thương làm tê liệt ý chí hành động của người dũng tướng. Arjuna từ chối cầm vũ khí vì sợ hãi tội lỗi sát sinh. Thần Krishna đã thức tỉnh Arjuna bằng chân lý về linh hồn bất tử. Thân xác hữu hoại nhưng bản tính tinh thần trường tồn qua thời gian. Cái chết chỉ là sự thay đổi y phục của linh hồn khả tử. Hành động theo bổn phận mà không màng danh lợi chính là con đường giải phóng. Sự bi quan ban đầu chuyển hóa thành thái độ hành động quả cảm và thanh thản.

2.2. Sự đối lập giữa trường phái chính thống và không chính thống

Lịch sử tư tưởng Ấn Độ chứng kiến sự phân hóa sâu sắc giữa hai nhánh lớn. Nhánh chính thống thừa nhận uy quyền tối cao của kinh Veda. Sáu phái tiêu biểu gồm Nyaya, Vaisesika, Samkhya, Yoga, Mimamsa và Vedanta. Các hệ thống này kiến tạo nền tảng siêu hình học và tri thức luận chặt chẽ. Ngược lại, nhánh không chính thống kiên quyết phủ nhận thẩm quyền kinh điển Veda. Phái Carvaka phát triển chủ nghĩa duy vật triệt để và thực chứng. Kỳ Na giáo đề cao lối sống khổ hạnh và nguyên tắc bất bạo động. Phật giáo nhấn mạnh quy luật nhân duyên và con đường trung đạo diệt khổ. Sự tranh luận học thuật giữa các trường phái thúc đẩy tư duy triết học phát triển rực rỡ.

III. Phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học Ấn Độ của Doãn Chính

Phương pháp nghiên cứu triết học đóng vai trò then chốt trong việc tiếp cận văn bản. Nhóm tác giả do Tiến sĩ Doãn Chính đứng đầu lựa chọn cách tiếp cận thực chứng văn bản. Nghiên cứu triết học phương Đông đòi hỏi sự cẩn trọng và khách quan tuyệt đối. Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo cứu tỉ mỉ các kinh văn cổ ngữ. Phương pháp đối chiếu giúp làm sáng tỏ thuật ngữ triết học phức tạp. Bản dịch trung thành với tinh thần nguyên tác nhưng diễn đạt bằng tiếng Việt trong sáng. Tác giả kết hợp phân tích ngữ nghĩa với bối cảnh văn hóa lịch sử. Lối tiếp cận này loại bỏ những suy diễn chủ quan hoặc áp đặt quan điểm phương Tây. Ngoài ra, tác phẩm nhấn mạnh phương pháp thực hành Yoga như một giải pháp nhận thức. Yoga không đơn thuần là rèn luyện thể chất. Đây là phương thức kỷ luật tinh thần để kiểm soát giác quan và làm chủ tâm trí. Người thực hành hướng tới trạng thái hợp nhất giữa linh hồn cá thể và vũ trụ vô biên.

3.1. Tiếp cận trực tiếp qua văn bản gốc và nguyên tác

Phương pháp tiếp cận nguyên tác là điểm sáng học thuật nổi bật của công trình. Nhóm tác giả từ bỏ lối diễn dịch chung chung và đi thẳng vào kinh văn. Mỗi thuật ngữ triết học tiếng Phạn được chuyển ngữ cẩn trọng sang tiếng Việt. Việc dịch thuật bám sát cấu trúc câu giúp giữ trọn vẹn ngữ nghĩa gốc. Độc giả có cơ sở khoa học tin cậy để tự đối chiếu và suy ngẫm. Lời giới thiệu ở đầu mỗi chương cung cấp khung lý thuyết nền tảng. Nhờ vậy, người đọc dễ dàng định vị tác phẩm trong dòng chảy tư tưởng Ấn Độ. Lối nghiên cứu thực chứng này nâng cao chất lượng học thuật chuyên ngành triết học.

3.2. Phương pháp Yoga và con đường thanh lọc tâm thức

Phương pháp tu luyện Yoga xuất hiện như giải pháp giải thoát then chốt. Kinh văn chỉ rõ rằng tri thức lý thuyết chưa đủ để đạt chân lý. Con người cần thực hành kiêng khem và kiểm soát các giác quan. Khi thấm nhuần Yoga, hành giả hợp nhất bản thân với đấng tối cao. Mọi hành động hàng ngày từ đi, đứng, ngủ, nghỉ đều trở thành phương tiện tu tập. Thân xác và giác quan chỉ là công cụ phục vụ sự tiến hóa của linh hồn. Người tu luyện rũ bỏ ràng buộc ích kỷ để hoàn thành bổn phận. Tội lỗi không thể hoen ố tâm hồn người hành trì giống như nước không dính lá sen.

IV. Giá trị ứng dụng từ lịch sử triết học Ấn Độ trong hiện đại

Nghiên cứu lịch sử triết học Ấn Độ mang lại nhiều giá trị thực tiễn sâu sắc. Xã hội hiện đại chứng kiến nhiều căng thẳng và khủng hoảng tâm lý. Triết lý hành động vô ngã cung cấp phương thuốc xoa dịu áp lực cuộc sống. Tác phẩm của Doãn Chính giúp người đọc hiểu rõ nghệ thuật sống an nhiên. Con người học cách hoàn thành chức phận nghề nghiệp mà không bị ám ảnh bởi kết quả. Thái độ làm việc tận hiến giải phóng tâm trí khỏi nỗi lo sợ thất bại. Bên cạnh đó, tư tưởng Ấn Độ đóng góp tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa mới. Tinh thần khoan dung và tôn trọng sự khác biệt tôn giáo có ý nghĩa giáo dục to lớn. Các trường đại học sử dụng giáo trình này để bồi dưỡng tư duy phản biện cho sinh viên. Học giả nghiên cứu có thêm công cụ lý luận để so sánh tư tưởng phương Đông và phương Tây. Tác phẩm tiếp tục khẳng định sức sống bền bỉ của di sản triết học nhân loại.

4.1. Đóng góp đối với đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam

Văn hóa Việt Nam tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng tôn giáo Ấn Độ. Phật giáo và tư tưởng luân hồi nghiệp báo đã ăn sâu vào nếp sống dân tộc. Công trình của Doãn Chính cung cấp tư liệu chuẩn xác để nhận diện cội nguồn các ảnh hưởng này. Nghiên cứu kinh văn giúp làm rõ quá trình dung hợp văn hóa trong lịch sử. Việc tiếp thu có phê phán tinh hoa Ấn Độ làm phong phú nền văn hóa dân tộc. Tác phẩm hỗ trợ bảo tồn các giá trị nhân văn truyền thống tốt đẹp. Độc giả hiểu đúng tinh thần triết học để tránh rơi vào mê tín dị đoan. Đây là đóng góp học thuật thiết thực cho công cuộc phát triển văn hóa.

4.2. Bài học về sự buông bỏ ràng buộc trong đời sống

Nguyên lý Karma Yoga mang lại bài học quý giá cho con người hiện đại. Triết lý khuyên con người hãy hành động hết mình nhưng từ bỏ tâm lý ích kỷ. Nỗi lo âu chỉ xuất hiện khi tâm trí quá bám víu vào lợi ích cá nhân. Khi xem công việc là sự cống hiến, tâm hồn đạt được sự tự do đích thực. Người lao động tìm thấy niềm vui ngay trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Mọi tác động tiêu cực bên ngoài không thể làm hoen ố nội tâm vững vàng. Tinh thần hành động trong sáng giúp cân bằng cuộc sống và công việc. Đó là giải pháp triết học sâu sắc để vượt qua áp lực và tìm kiếm an lạc nội tâm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/11/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỊCH SƯ TRIẾT HỌC ĂN ĐỘ DOÄN CHÍNH(Chú hiến) VỤ QUANG HIÁ CHẤU VĂN NINH NGUYÊN ANH THƯỜNG NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌG QUỐC GIA HÀ NỘI DOÃN CHÍNH (Chủ biên)-VŨ QUANG HÀ CHÂU VĂN NINH - NGUYÊN ANH THƯỜNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ KINH VAN EỦA BÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỤC ẤN BỘ NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI LỠI NHÀ XUẤT BẢN Trong các nền triết học của phương Đông, thì tư tưởng triết lýdạo đức nhân sinh của triết học Ấn Độ có ảnh hung khá sâu rộng trong đời sống tĩnh thần, uăn hóa Việt Nam. Vì thế, nghiên cứu tìm hiểu nền uăn hóaẤnĐộ nói chưng nà tư tưởng triếtlýtôngiáo ẤnĐộnói riêng trên cơsởtiếp thucó phê phán những tính hoa của nó có Ú nghĩa sâu sắc uàthiết thực trong uiệc bảo tồn uà phát triển nền năn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, như tỉnh thần nghị quuết Trưng ương V (khóa VI) của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra. Để giúp cho sinh uiên, nghiên cứu sinh các ngành Triết học, Văn hóa học, Đông phương học, Văn học oà bạn đọc quan tâm dến triết học tôn giáo Ấn Độ có thêm tài liệu tham khảo, Nhà Xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội choxuất bản cuốn sách giới thiệu uề các bản uăn của triếthọctôn giáo Ấn Độ, do Tiến sĩ Doãn Chính, Trưởng Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội uà Nhân uăn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Mình chủ trì biên soạn; uới sự tham gia của Tiến sĩ Vũ Quang Hà, Phó truông Khoa Xã hội học, Trường Đạt họcKhoa học Xã hội nà Nhân uăn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; Cử nhân Châu Văn Ninh, Nghiên cứu uiên, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Mình (Trưng tâm Khoa học Xã hội 0À Nhân on quốc gia) uà Cử nhân Nguyễn Anh Thường, Giảng oiên Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội uàNhân săn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Mình, Kinh uăn của các trường phái triết học Ấn Độ được chịa là hai phần. Phần thứ nhất, trình bàp tưtưởng triếtlýtôn giáo Ấn Độ trong thờikỳAnh hùng ca qua uiệc dịch nà giới thiệuba tác phẩm chính là luật Manu, luận săn chính trịAriha - Sawa pà Bhagauad - giữa.

Phần thứ hai, trình bàu, giới thiệu bựhưởng triết học của ba trường phái thuộc hệ thống không chính thống là Càmaka, Jainism, Buddhism 0à tựtưởng của sáu trường phái thuộchệ thống chính thống làNụawa, Vaisèsika, Sàmklhụa, Yoga, Pùrua Mimànsa nà Vedànta. Trong mỗi tác phẩm triết học, mỗi trường phái tư tưởng trước khi biên dịch nội dưng bản uăn, các tác giả đều giới thiệu khái quát nềchúng, giúpnguôi đọccómội cái nhìn hệ thốngoề các trường phái triết học Ân Độ. Do uậu, hự uợng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo bổích cho rhườg đi quan tâm đến uấn đề nàu. Cô thể nói đây là bộ sách dầu tiên ở Việt Nam trình bàg, giới thiệu mội cáchhệthống 0à tương dốt đầu đủ bắn năn của các trường phái triết học tôn giáo Ân Độ.

Tuy nhiên, do tính chất sâusắc, thâm trầm uà phức tạp của triết lý tôn giáoẤnĐộ, nên uiộc nghiên cứu nền triết học này là công uiệc hết sứckhó khăn 0à sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Nhà xuất bản nà các tác giả rất mongsựgóp Ú, chỉ giáo của tất cả bạn đọc. Nhà Xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội trân trọng giới thiệu bộ sách uới bạn dọc † Ũ NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI Phần thứ nhất TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ TRONG THỜI KỲ ANH HÙNG CA Tiếp theo thời kỳ Veda, tư tưởng triết học Ấn Độ được tiếp tục phát triển trong thời kỳ Anh hùng ca bay thời kỳ Sử thì (khoảng thế kỷ VII - VI trước CN). Sở dĩ người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ Anh hùng ca bởi vì toàn bộ đời sống vật chất và đặt biệt là đời sống văn hóa tỉnh thần của xã hội Ấn Độ cổ đại đều được phản ánh khá tập trung trong hai cuốn sử thi lớn &ảmàyznag và Mahabhàraia.

Ràmayana cô nghĩa là sự tích hay là câu chuyện về hoàng tử Rama, dòng dõi vương triều thần Mặt trời. Theo triết lý thần thoại Ấn Độ, Rama là hóa thân thứ bảy của thần Visnu, một mẫu hình lý tưởng của đẳng cấp chiến sĩ ksatriya.Radhakrisnan cho rằng, Ràmàyana được soạn ra sau thời kỳ đạo Phật ra đời, song nó lại phản ánh các sự kiện lịch sử xâ hội xảy ra ở những thời kỳ trước đó, tức thời kỳ tiếp theo ngay sau thời kỳ Veda.000 câu thơ đôi (sloka). Rama là con trai đức vua Dasaratha, thuộc vương quốc xứ Kosala, đã từng vì đanh dự, bổn phận của đẳng cấp chiến sĩ, từ bổ cuộc sống vương quyền, cùng với vợ là nàng Sita và người em trai Laksmana cùng cha khác mẹ đi đầy trong suốt 14 năm. Được sự giúp đỡ của tướng khỉ Hanuman, họ đã vượt qua mọi khắc nghiệt của thiền nhiên cũng như những âm mưu ác độc của con người và ma quỷ để chiến đấu vì đức công chính (đharma), giành lại người vạ yêu quý của mình từ tay quỷ mười đầu Ravana.

Nhưng trong cuộc chiến đấu với chính mình, Rama lại bị gục ngã trước sức mạnh hiểm độc của lòng ghen tuông, nghỉ ky, xấu xa của chính mình. Tư tưởng chủ yếu trong #âmàyøna đó là ý nghĩa triết lý đạo đức nhân sinh trong quan niệm về bản chất con người, về cái. thiện và cái ác trong chính con người của người Ấn Độ cổ xưa. Rama và Sita là tắm gương điển hình cho đạo đức lý tưởng của người Ấn Độ.

Đức hy sinh, lòng cao cả, ý chí khẳng định vì trách nhiệm, bổn phận, lương tâm, đức tin theo "dharma” một cách vô tư, nhiệt thành của Rama là bài hạc sống động của người Ấn Độ từ giai đoạn tu tập thuở niên thiếu đến giai đoạn nhập thế trưởng thành. Còn lòng can đảm, trung trinh, giàu nghị lực và nhân từ của Sita trong chuỗi đài những gian nan, đau khổ lại là một bậc đức độ, hiền thục, thánh thiện đứng đầu cái thiện của con người. Aahàbharafa, có nghĩa là "Đại thi tập về dòng họ Bharata”. Nếu 8àmàyana là sử thì có tính thống nhất nào đó về đề tài, thì Mahabhàrata lại là một tác phẩm có tính chất phức tạp hơn nhiều.000 câu thơ đôi, tức 220.000 đồng thơ, đài gấp bảy lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi cổ Hy Lạp là /ade và 10 Ødissee cộng lại.

Bên cạnh nội đung chính là câu chuyện về dòng họ Bharata chỉ chiếm khoảng một phần tư độ dài của tác phẩm, Mahàbhàrata đã ghép rất nhiều những sự tích thần lình, những chuyện ngụ ngôn, những ẩn đụ triết học. trong đó phần lấp ghép quan trọng nhất là từ phần triết học tôn giáo nổi tiếng Bhaøavad - øita, được đưa vào toàn bộ quyển VỊ vốn là lời khuyên bảo của người đánh xe Krisna, hoá thân của thần Vìsnu, cho dũng sĩ Arjuna về bản chất của linh hồn thế giới tối cao Brahman, về linh hồn con người, về "dharma" và nghĩa vụ bổn phận tự nhiên của con người tuân theo "đharma" một cách nhiệt tình, không vụ lợi, trong đêm trước trận quyết đấu của năm anh em nước Pandavas và 100 anh em nước Kurus đều là anh em thúc bá. Trong Rèmayana và đặc biệt trong Mfahàbhàradfa, chúng ta đã tìm thấy chị tiết quy tắc xã hội chính thống của người Ấn Độ; như bỡn mục đích của cuộc sống (purusàrthas) tức là: đức công chính (dharrria), sự giàu có (artha), lạc thú trần tục (kàma) và sự giải thoát tỉnh thần (moksa); ứng với bốn giai đoạn của cuộc sống là: tú tập thuở niên thiếu (brahmacarya), chủ gia đình (gàrhasthya), ẩn dật trong rừng sâu (vanaprastha) và tụ khổ hạnh hành khất (sannyasa); và vấn đề phân chia đẳng cấp ở xã hội Ấn Độ cổ đại. Ý nghĩa triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc của Rdmdyana và .Mahabharafa khiến các học giả phương Tây đã phải hết lời ca ngợi rằng: người ta khó mà tìm thấy một người Ấn Độ nào, dù là nam hay nữ, giàu hay nghèo, trí thức hay thất học, mà những kỷ niệm xa xưa nhất của người đó lại không dính dáng đến lịch sử và các nhân vật của các thiên hùng ca.

Tư tưởng đạo đức chứa đựng tron những lác phẩm ấy đi thẳng vào tâm hồn dân tộc Ấn Đậ, 11 một dân tộc vốn giàu lòng tín ngưỡng, và trở thành nền tảng của nền đức dục. Ở Ấn Độ các bà mẹ không Bm đâu thấy một người trí đức tốt đẹp hơn để giáo dục con cái, các cụ già có thể sử dụng các truyện tích trong anh hùng ca làm một nguồn cảm hứng bất tận để kể chuyện cho con cháu. Trong vòng ba ngàn năm nay, những tác phẩm ấy trở thành dị sản vô cùng quý báu của nhân đân Ấn Độ và hiện thời chúng vẫn còn phản chiếu rõ rệt trong tư tưởng, tín ngưỡng và ý niệm đạo đúc của toàn thể dân tộc). Thời kỳ Anh hùng ca, giống như mọi thời kỳ, trong đó những nền văn minh vừa hội tụ vừa xung đột.

Chế độ phân biệt đẳng cấp hình thành và phát triển, Bàlamôn giáo dựa trên triết lý Veda - Upanishad trở thành triết lý tôn giáo thếng trị. Thời kỳ này người ta đã có sự hoạt động trí tuệ to lớn, mở rộng và phát triển đời sống trên nhiều mặt khác nhau, Tư tưởng triết học Ấn Độ thời kỳ này mang tính triết lý chính trị, đạo đức, tôn giáo, chủ yếu là sự phát triển tư tưởng của Bàlamôn giáo chính thống. Chúng được thể hiện trong các tác phẩm sau: 1. Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu nội dung tư tưởng của các tác phẩm trên thông qua sự giới thiệu khái quát về chúng và sự biên dịch, giải thích các bản văn của chúng.

Dutt: The Ràmàyang and thẻ Mahàbharara, London. 332-333, 12 L BHAÄGAVAD - GIA (Bàt ca uề Đấng chítôn) Bhagavad - gita là một phần của ahabhàrata, nguồn gốc tác giả cửa nó được quy cho vị đạo sĩ Vyàsa, Nó gồm 700 câu thơ được đưa vào toàn bộ quyển VI của Anh hùng ca Mahàbhàrata. Bhagavad - gita vửa lâ đẹo đức học, siêu hình học, vừa là brahmavidya (tri thức về Brahman) và yoga - sustra; là khoa học về thực tại và nghệ thuật hợp nhất với thực tại. Cảm hứng chủ yếu Bhagavad - gia bắt nguồn từ kinh Upanishad và hợp nhất thành một sự tổng hợp bao quát những yếu tố khác nhau cửa sự cúng bái trong lễ hiến tế Veda, sự giảng dạy có tính chất triết lý (Upanishad) về Brahman tuyệt đối, thuyết hữu thần Bhàøavata, tư tưởng nhị nguyên cửa Samkiwa và sự trầm tư mặc tưởng của Yoga.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tác phẩm <strong>Lịch sử triết học Ấn Độ: Kinh văn của các trường phái triết học Ấn Độ</strong> do Doãn Chính chủ biên là tài liệu kinh điển hệ thống hóa toàn diện các kinh văn từ Veda, Upanishad đến các trường phái lớn. Cuốn sách mang lại lợi ích thiết thực cho người đọc qua việc tiếp cận trực tiếp văn bản gốc, làm sáng tỏ thế giới quan và tư tưởng giải thoát phương Đông. Đây là nguồn tài liệu bổ trợ đắc lực cùng <strong>giáo trình triết học Ấn Độ</strong> để người học củng cố kiến thức chuyên ngành. Tác phẩm còn giúp làm rõ bức tranh tư tưởng phong phú của <strong>triết học Ấn Độ cổ đại</strong> trong tiến trình lịch sử. Đồng thời, tài liệu cung cấp nền tảng học thuật vững chắc cho các công trình <strong>nghiên cứu triết học Ấn Độ</strong> chuyên sâu.