Chương 1: Pháo đài Ahmadnagar hai mươi tháng; Chương 2: Badenweiler, Laussanne; Chương 3: Sự tìm kiếm; Chương 4: Phát hiện Ấn Độ; Chương 5: Qua các thời đại chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đế quốc dưới triều Guptas; Chương 6: Những vấn đề mới; Chương 7: Giai đoạn cuối cùng (1); Chương 8: Giai đoạn cuối cùng chủ nghĩa dân tộc đối đầu với chủ nghĩa đế quốc (2); Chương 9: Giai đoạn cuối cùng (3); Chương 10: Một lần nữa ở pháo đài Ahmadnagar, Jawaharlal Nehru không chỉ bàn đến văn minh, văn hóa Ấn Độ với những nội dung, đặc điểm đặc sắc trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Ấn Độ, mà còn nghiên cứu về triết học tôn giáo Ấn Độ trong sự tác động, ảnh hưởng với các yếu tố của văn hóa Ấn Độ, nhất là trong chương 4 và chương 5 của tập 1. Trong hai chương này, Jawaharlal Nehru đã nghiên cứu và trình bày các điều kiện lịch sử, xã hội và văn hóa với sự hình thành triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại qua các chủ đề lớn như: “Nền văn minh thung lũng Indus”, “Ấn Độ giáo là gì?”, “Những ghi chép bộ kinh và thần thoại Ấn 6 Độ sớm nhất”, “Kinh Veda”, “Chấp nhận và phủ nhận cuộc sống”, “Kinh Upanishads”, “Chủ nghĩa duy vật”, “Sử thi Mahàbhàrata”, “Bhagavad - gità”, “Mahavira và Đức Phật”, “Đẳng cấp”, “Lời dạy của Đức Phật”, “Triết học Phật giáo”, “Ảnh hưởng của đạo Phật vào đạo Hindu”, và đặc biệt là hai phần: “Tiếp cận triết học Ấn Độ”, “Sáu hệ thống triết học”…; hay trong tác phẩm Ấn Độ cổ đại của GM. Bongard - Levin và G. Ilyn, với ba phần lớn, gồm Phần thứ nhất: Buổi bình minh của lịch sử; Phần thứ hai: Hình thức của những đế chế đầu tiên; Phần thứ ba: Thời đại Kushana Gupta, trên cái nền chung là lịch sử và lịch sử văn hóa Ấn Độ, các tác giả đã trình bày và phân tích những điều kiện tự nhiên, lịch sử, dân tộc và văn hóa Ấn Độ cổ chi phối, ảnh hưởng đến triết học và tôn giáo Ấn Độ cổ đại, trong đó có những nhận định và đánh giá khá sâu sắc về nền triết học tôn giáo này, như các vấn đề: “Sự nổi lên của nền văn minh - văn hóa Harappa”, “Chế độ varna”, “Tôn giáo và văn hóa của thời đại Veda” (trong Phần thứ nhất), “Phật giáo và Jaina giáo” (trong Phần thứ hai), “Sự thay đổi của các tôn giáo xã hội và hệ thống chủng tính varna”; “Mahayana và Hindu giáo”, “Các trường phái triết học cơ bản của Ấn Độ thời cổ đại” (trong Phần thứ ba)… Tất cả các công trình trên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến điều kiện và tiền đề hình thành, phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại.
Đó là điều kiện địa lý, tự nhiên, khí hậu, dân tộc. hết sức đa dạng, khắc nghiệt ở Ấn Độ cổ đại. Đó còn là điều kiện xã hội với chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng hà khắc, lại bị kìm hãm bởi công xã nông thôn, với sự khép kín về địa bàn cư trú, về dân cư, về tổ chức hành chính và nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp, bảo thủ, trì trệ và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội - chế độ varna, là sự phân biệt về chủng tính, sắc tộc, về hôn nhân, nghề nghiệp, về tôn giáo và cả về sự giao tiếp hết sức khắt khe, cùng với những thành quả phát triển đặc sắc của nền văn minh Ấn Độ cổ đại, qua các thời kỳ lớn như: thời kỳ văn minh sông Ấn, thời kỳ văn minh Veda - Sử thi, thời kỳ Phật giáo và Bàlamôn giáo, với các thành tựu khoa 7 học và văn hóa nổi bật trên các lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toán học, y học, văn học, nghệ thuật, điêu khắc, kiến trúc. đã chi phối, ảnh hưởng và ghi dấu ấn đậm nét trong nội dung và đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại.
Chủ đề thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và những nội dung, đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại. Trong đó đáng chú ý là những công trình: Indian Philosophy của S. Radhakrisnan, do New York, The Machillan, xuất bản năm 1951; và The Oxford University Press, New Delhi, India, xuất bản năm 1956; Six Systems of Indian Philosophy của Max Muller, do Bhavan’s book University, xuất bản năm 1899; Triết học Ấn Độ - một cách tiếp cận mới, của Heinrich Zimmer, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 2006, đã nghiên cứu và trình bày về triết học Ấn Độ không phải dưới góc độ lịch sử hình thành, phát triển của các trường phái triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại, mà tiếp cận dưới góc độ các chủ đề triết học chính của nền triết học này, như: “Triết học về thời gian”, “Triết học về sự hoan lạc”, “Triết học về bổn phận”, “Triết học về sự vĩnh hằng”, qua nội dung các kinh sách và tư tưởng của các trường phái triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại.
Đó còn là các tác phẩm như Đại cương triết học phương Đông của Minh Chi và Hà Thúc Minh, Ban xuất bản Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1993; tác phẩm Nhập môn triết học Ấn Độ của Lê Xuân Khoa, do Trung tâm học liệu, Bộ giáo dục, Sài Gòn, xuất bản năm 1972; tác phẩm Lịch sử triết học Ấn Độ của Thích Mãn Giác, Ban tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, xuất bản năm 1967; tác phẩm Lịch sử triết học phương Đông, 5 tập của Nguyễn Đăng Thục, do Trung tâm học liệu, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, xuất bản năm 1972; Triết sử Ấn Độ - Nhập môn triết học Ấn Độ và Upanishad của Hoàng Sỹ Quý, Nxb. Hưng giáo đồng văn, Sài Gòn, 1972; và các tác phẩm Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại của Doãn Chính - Lương Minh Cừ, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, xuất bản năm 1991, Tư tưởng 8 giải thoát trong triết học Ấn Độ của Doãn Chính, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1997; Mười tôn giáo lớn trên thế giới của Hoàng Tâm Xuyên (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 (Bản dịch của Dương Thu Ái và Phùng Thị Huệ)… Các công trình này đã đi sâu trình bày nội dung của các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại, qua đó đã đưa ra những nhận định, đánh giá và rút ra những đặc điểm của nó. Chẳng hạn, trong tác phẩm Đại cương triết học phương Đông của Minh Chi và Hà Thúc Minh, dựa theo quan điểm của nhà nghiên cứu Aldous Huxley, đã trình bày bốn đặc điểm của triết học Ấn Độ như: Một là, đằng sau thế giới hiện tượng vô cùng phong phú, đa dạng có một thực tại duy nhất, không thay đổi mà Huxley gọi là “thần tính”, Ấn Độ giáo gọi là Brahmàn, Phật giáo gọi là “Niết bàn”, “Chân như”… và mục tiêu cuối cùng của thực nghiệm tâm linh là tiếp xúc cho được với “Cái đó”. Hai là, để tiếp xúc được với “Cái đó”, người ta không dùng sự nhận thức thông thường mà phải bằng sự trực giác (intuitive wisdom) hay là sự “thực nghiệm tâm linh”.
Ba là, con người ta có hai cái ta; một “Cái ta thật” và một “Cái ta giả”. “Cái ta giả” là cái ta hiện tượng và “Cái ta thật” là cái ta phổ biến cùng khắp vũ trụ, cái ta thanh tịnh, tuyệt đối, bất biến. Con người sở dĩ đau khổ, chịu cảnh sinh tử luân hồi là do con người đánh mất “Cái ta thật” và sống với “Cái ta giả”, cái ta hư vọng, tham lam, vị kỷ…. Bốn là, mục đích và ý nghĩa của nhân sinh trong triết học Ấn Độ là mọi người hãy trở về với chân bản tính của mình, trở về với “Cái ta thật” của mình.
Một sự trở về có ý thức, trước hết bằng lối sống đức hạnh, hướng thiện, vị tha, vô ngã để dần dần trở thành một con người hoàn thiện (Minh Chi - Hà Thúc Minh, 1993, tr. Còn trong tác phẩm Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ của Doãn Chính, thông qua việc trình bày những nét khái quát về triết học Ấn Độ và những đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại, như tính thống nhất và đa dạng, sự thống nhất giữa triết học và tôn giáo, triết lý đạo đức 9 nhân sinh, vấn đề đời sống tinh thần tâm linh con người, tính nhân văn… cuốn sách đã đặc biệt đi sâu phân tích, lý giải về nguồn gốc, mục đích, nội dung, các con đường, cách thức của sự giải thoát - một trong những vấn đề trung tâm, tối cao của tư tưởng triết học Ấn Độ. Các công trình trong chủ đề thứ hai này, giúp chúng ta hiểu rõ được bức tranh chung về triết học Ấn Độ qua các trường phái, các kinh sách với những nội dung phong phú cùng với những đặc điểm và ý nghĩa lịch sử đặc sắc của nó. Đó là tư tưởng triết học trong kinh Veda, Upanhishad trong thời kỳ Veda - Sử thi (từ thế kỷ XV trước C.N đến thế kỷ VI trước C.N) và đó là các trường phái Sànkhya, Vais’esika, Nyàya, Yoga, Mimàmsa và Vedànta, gọi là các dasanas hay hệ thống triết học tôn giáo chính thống, và ba môn phái Jaina, Lokàyata và Phật giáo, gọi là hệ thống triết học tôn giáo không chính thống.
thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo (từ thế kỷ VI trước C.N đến thế kỷ III sau C. Đặc biệt các công trình nghiên cứu về triết học Ấn Độ ở chủ đề thứ hai còn cho thấy, nếu trong thời kỳ Veda - Sử thi, thế giới quan thần thoại tôn giáo có tính chất đa thần tự nhiên là nội dung chủ yếu và tư tưởng triết học còn mang tính tản mạn, thì sang thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo các trường phái triết học Ấn Độ đã đi sâu vào lý giải và trả lời cho những câu hỏi về các vấn đề: thế giới quan, nhận thức luận, nhân sinh quan có tính khái quát, hệ thống, mạch lạc, chặt chẽ hơn. Chủ đề thứ ba, là các công trình nghiên cứu từng trào lưu, từng loại kinh sách triết học Ấn Độ. Trong đó phải nói đến các công trình như: Tác phẩm A Sourcebook in Indian Philosophy, do Sarvepalli Radhakrishnan và Charles A.
Moore biên soạn, Princeton University Prees, Princeton New Jersey xuất bản năm 1973, gồm các phần: Thời kỳ Veda (kinh Veda, kinh Upanishad), Thời kỳ Anh hùng ca (Bhagavad gità, Mahàbhàrata, Luật Manu, Artha-sàstra của Kautilya), Hệ thống triết học tôn giáo không chính thống (Carvàka, Jainism, Buddhism), Hệ thống triết học tôn giáo chính thống (Nyàya, Vais’esika, Sànkhya, Yoga, Pùrva 10 Mimàmsà, Vedànta).