phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 4 tiết. 8 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – LỊCH SỬ XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – LỊCH SỬ XÃ HỘI VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI C.Mác đã từng nhận xét: “ không có một triết học, trường phái tư tưởng triết học nào nảy sinh trên mảnh đất trống không, mà đều hình thành, phát triển trên những nền tảng, điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa nhất định” (C. Mỗi nền triết học đều dựa trên những điều kiện và tiền đề riêng và triết học Ấn Độ cổ đại cũng không phải là ngoại lệ.
Triết học Ấn Độ thời cổ đại được hình thành từ những điều kiện như sau: 1. Điều kiện tự nhiên với quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại Điều kiện tự nhiên của Ấn Độ rất đa dạng và khắc nghiệt Ấn Độ là quốc gia có nhiều núi non trùng điệp, sông ngòi rộng lớn và những đồng bằng trù phú. Ấn Độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông Nam giáp với Ấn Độ dương, phía Tây Nam giáp với biển Á-rập, phía Bắc giáp với rặng núi Himalaya hùng vĩ, quanh năm tuyết phủ.
Theo Will Durant Ấn Độ cổ đại là một tam giác mênh mông quanh năm tuyết phủ ở Phía bắc, phía nam thì nóng như thiêu, như đốt cùng với những sa mạc khô cằn làm cho con người sống trong tình trạng đau khổ, chán nản. Theo Will Durant: “Xứ đó là một tam giác mênh mông, đáy ở phía Bắc, tức dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ; đỉnh ở phía nam, tức đầu đảo Tích Lan, quanh năm nóng như thiêu như đốt. Phía Tây là Ba Tư mà dân chúng, ngôn ngữ, thần thánh đều rất gần gũi với Ấn Độ thời Veda” (Durant Will, 1954, p. 9 Nhắc đến Ấn Độ không thể không kể đến Himalaya.
Himalaya có hơn 40 ngọn núi cao quanh năm tuyết phủ và đỉnh cao nhất hơn 8.000 mét, có bề dài trên 7. Đây là nơi ẩn dật, là chốn tu hành của nhiều đạo sĩ. Đã có nhiều chuyện thần thoại và nhiều truyền thuyết về các chuyện đã xảy ra trên ngọn núi này. Tư duy huyền thoại cho rằng đây là nơi tiếp giáp, đi về của thần linh giữa cõi trời và nhân gian nên đã hình thành những tư tưởng thế giới quan thần thánh tôn giáo gắn với tự nhiên như thần nắng, thần mưa, thần gió, thần nông, thần y, … Các nhà văn hoá Ấn Độ cho rằng dãy núi Himalaya đã tạo nên những khuôn mẫu tư tưởng sâu đậm trong văn hoá của miền Nam Châu Á.
Nhiều đỉnh núi của rặng Himalaya đã là những nơi linh thiêng của cả Phật giáo và Ấn Độ giáo. Rặng núi Himalaya là ranh giới của Tiểu lục địa Ấn Độ với cao nguyên Tây tạng. Từ trên ngọn núi Himalaya, có 3 con sông lớn của thế giới chảy vô nước Ấn Độ , tạo nên những đồng bằng rộng lớn: Indus, Ganges và Brahmaputra. Jawaharlal Nehru đã viết ông từng lang thang trên dãy Himalaya.
Nơi đây là dãy núi có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng triết học và văn học của nhiều tác giả. Tại đây, Jawaharlal Nehru tìm thấy những điều tuyệt vời, những sinh lực của quá khứ, hiện tại và đặc biệt là vẻ đẹp của các thời đại đã qua. “Tôi lang thang trên dãy Himalaya, nơi gắn chặt với những chuyện thần thoại và truyền thuyết xưa, và nơi đã có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng và văn học của chúng tôi. Lòng yêu mến núi non của tôi và tình ruột thịt với Kashmir đã kéo tôi đến đó, và tôi được nhìn thấy không những cuộc sống, sinh lực và cái đẹp của hiện tại mà cả vẻ duyên dáng được ghi nhớ của các thời đại đã qua.” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol.
Miền cực bắc Ấn Độ với không khí lạnh giá khắc nghiệt cũng là điều kiện giúp cho người Ấn Độ cổ đại sáng tạo ra những truyền thuyết và những truyện thần thoại nhằm lý giải các hiện tượng hết sức đa dạng, mạnh mẽ, bí ẩn của tự nhiên và thăng trầm của đời sống con người. 10 Miền trung nổi bật là các đồng bằng và những con sông linh thiêng. Sông Indus - sông Ấn chảy qua miền Tây nước Ấn Độ và đổ ra vịnh Oman. Sông này có 4 phụ lưu chính là các sông: Ravi, Thelum, Chenar và Sutleji.
Năm con sông này tạo nên đồng bằng Pendjab (âm VH, Ngũ Hà tức là vùng có 5 con sông). Lưu vực sông Ấn đã sinh thành một nền văn minh đáng chú ý là “Văn minh lưu vực sông Indus”( Indus valley civilization) vào khoảng năm 3.000 năm trước Công nguyên. Sông Hằng cung cấp nguồn sống cho hàng triệu người Ấn Độ dọc theo nó và phụ thuộc vào nó hàng ngày. Đây là nơi được người Ấn Độ cổ xem là linh thiêng và cũng là nơi khơi nguồn cho nhiều tư tưởng trên nhiều lĩnh vực lần lượt ra đời.
Jawaharlal Nehru đã viết: “sông Hằng, trước hết, là con sông của Ấn Độ; con sông đã nắm giữ trái tim của Ấn Độ và thu hút hàng bao nhiêu triệu người đến bên bờ của nó từ buổi bình minh của lịch sử. Câu chuyện dòng sông Hằng, từ ngọn nguồn của nó đến biển cả, từ thời xưa đến thời nay, là câu chuyện của nền văn minh và văn hóa Ấn Độ, của sự hưng suy của các triều đại, của những thành phố lớn kiêu hãnh, của cuộc phiêu lưu của con người và sự tìm tòi của trí tuệ từng làm bận bịu các nhà tư tưởng của Ấn Độ, của sự phong phú và hoàn mỹ của cuộc sống cũng như sự từ chối và bác bỏ nó, của những thăng trầm, tăng trưởng và tàn lụi, của cuộc sống và cái chết.” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol. Sông Hằng chảy qua miền giữa của nước Ấn Độ và đổ ra vịnh Bengal. Sông Hằng là một con sông linh thiêng nhất của Ấn độ.
Hằng năm, vào lễ hội tắm Kumbh Mela, có hàng triệu tín đồ đạo Ấn Độ giáo đến tắm trên dòng sông Hằng vì họ tin tưởng rằng nước sông Hằng sẽ rửa sạch mọi tội lỗi mà họ đã làm, và làm trong sạch , làm thanh tịnh tâm hồn của họ. Các “câu chuyện của dòng sông Hằng” cũng đã ảnh hưởng đến tư tưởng và văn hóa Ấn Độ. Với lượng phù sa màu mỡ và lưu vực rộng lớn, sông Hằng là cái nôi 11 phát triển của nền nông nghiệp lúa nước cổ xưa và là nơi phát sinh ra các quốc gia chiếm hữu nô lệ nhỏ, phân tán đầu tiên ở Ấn Độ cổ đại. Các quốc gia chiếm hữu nô lệ này là các quốc gia của những bộ tộc người Aryan, hình thành khi họ làm cuộc di thực xâm nhập, chinh phục Ấn Độ vào những năm cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Lưu vực sông Hằng là khu vực đông dân nhất và là vùng sản xuất nông nghiệp rộng lớn, quan trọng nhất của Ấn Độ. Phần phía tây của đồng bằng sông Hằng, được cung cấp lượng nước tưới dồi dào bởi một hệ thống kinh rạch chằng chịt, với các kinh huyết mạch là kinh Thượng lưu và Hạ lưu sông Hằng. Thông thường hai bên bờ sông Hằng có các vùng đầm lầy và các hồ nước. Ở các khu vực đồng ruộng hai bên bờ sông Hằng, người ta trồng các loại cây lương thực và hoa màu như lúa, lúa mì, khoai tây, bắp, mía đường, đậu lăng, mè, rau, ớt, mù tạt, hạt có dầu, bông, đay, gai.
Sông Brahmaputra còn gọi là sông Tsangpo Bramaputra, đây là con sông ngăn cách biên giới xuyên suốt phía Đông - Bắc Ấn Độ. Sông này chảy vô Ấn Độ theo hướng Tây Nam, rồi hạ lưu của nó sát nhập với sông Hằng để cùng nhau chảy ra vịnh Bengal tạo điều kiện để trồng trọt và chăn nuôi. Sông Ấn là cái nôi của nền văn minh cổ Ấn Độ. Lịch sử ghi chép lại nền văn minh lúa nước này có 5 đặc điểm chứng tỏ nơi đây là mầm mống của những truyền thống, lễ nghi tôn giáo cùng với những bí ẩn chưa được giải mã hoặc đứt đoạn hoặc chỉ truyền lại một phần.
Người Ấn Độ cổ tập trung dòng họ, dòng tộc chiếm một vùng đất hình thành chế độ nô lệ. Miền Nam Ấn Độ Có các cao nguyên cùng nhiều sông suối đồi dốc không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Khí hậu khô nóng, đất đai khô cằn làm cho người dân ở đây “đen như mọi” và vì cuộc sống cực nhọc khó khăn nên con người không đủ khả năng nuôi sống bản thân. Từ đó họ chán nản, thất vọng, bi quan, trễ nãi, biến nhát, đau khổ không muốn lao động và họ mơ đến một nơi hạnh phúc lý tưởng đó là “niết bàn”.
12 Khí hậu của Ấn Độ thì vô cùng khắc nghiệt. Miền Bắc ở dưới chân rặng Himalaya thì lạnh lẽo, khi có gió nóng từ miền Nam thổi lên thì thời tiết có nhiều đám sương mù dày đặc. Vào mùa hè, nhiệt độ gia tăng làm các băng tuyết trên Himalaya tan ra tạo thành những cơn nước chảy dữ dội xuống thành lụt lội có sức tàn phá kinh khủng, và đem phù sa phủ khắp làng mạc, thành phố như trường hợp ở lưu vực sông Indus. Ấn Độ có nhiều khu rừng rậm có đầy cọp, beo, voi, chó sói, rắn độc, có những đầm lầy có nhiều cá sấu.
Khí hậu ở miền Nam thì oi bức, khó chịu làm ảnh hưởng đến tinh thần của con người và làm ảnh hưởng tới những quan niệm triết lý, nhân sinh. Rừng cây soi bóng mát là nơi rất thích hợp cho các đạo sĩ tu tập, ngồi thiền định. Vào mùa hè, mưa nhiều, nên khí hậu được mát mẻ hơn, nhà nông có thể trồng trọt. Như vậy, điều kiện tự nhiên ở Ấn Độ cổ đại vô cùng khắc nghiệt đã đè nặng lên đời sống con người Ấn Độ làm cho con người ở đây hết sức khổ cực và mọi người cùng đặt ra vấn đề là làm thế nào để con người thoát khỏi khổ đau.
Đây là hỏi chung, câu hỏi lớn và cũng là câu hỏi trung tâm mà tất cả các nhà tư tưởng, các triết gia, các tầng lớp trí thức tập trung giải quyết lúc bấy giờ. Điều kiện lịch sử xã hội với quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại Khoảng trên 4.000 năm trước Công nguyên, đã có nhiều dân tộc sinh sống ở Ấn Độ với các phong tục, tập quán, ngôn ngữ và trình độ văn minh khác nhau. Giống người Dravidian là dân tộc nổi bật nhất trong các dân tộc đã sống ở Ấn Độ khoảng trên 3.