ut, SAU HỆ TRIẾT HỌC CHÍNH THỐNG (ASTIKA). Cặp học thuyết Ngaya-Vaiseska: — 2. Cặp học thuyết Sankhya-Yoga ˆ — 3. Clip hoe thuyét Mimamsa-Vedanta i: Pow vew ciệt chúng tá có thể phân biệt có hai | nhóm tôn giáo và triết học chính: Nhóm tôn,giáo và triết học chính thống, gọi là astika, bao gồm chủ yếu 6 hạ triết học, chia thành ba cặp.
Vä,nhóm triết học và tôn giáo không chính khống, bao gồm chủ yếu là đạoPhật, dao Jain và tư trào duy vật Carvaka, ; “Tiêu chuẩn phân biệt hai nhóm là nhóm chính thống astika chấp nhận các sách Veda là thần khải, có quyền uy tuyệt đối, đồng thời cúng thừa nhận chế độ đẳng cấp xã hội, với đẳng cấp Bà la môn đứng đầu. Còn nhóm tôn giáo và triết hoc nastika, phí chỉnh thống thì bác bỏ những giáo điều trên của nhóm cbính thống, Sau đây, lần lượt giới thiệu 6 hệ triết học chính thống và sau đó, các tôn giáo và bệ triết học phì chính thống, 11. Học phái Nyaya-Vaisesika Ngaya sách Hán dịch là Chánh lý tức là môn lô gíc học Ấn Độ, Can có tên là Nhân mảnh học, Sở dĩ ghép cùng s4 với học phái Vaisesika 1a vi, thực ra, bản thân học phái Nyaya chỉ quan tâm về mặt luận lý, mặt phương pháp duy logic ma thoi, thi đối với các vấn đề nhân sinh và vũ trụ, thì nó chấp nhận chủ thuyết của học phái Vaisesika. Nyaya la mét tir có nghĩa la lap Tuan (argumentation).
Lập luận có thể đứng vững hay không đứng vững. phái Nyaya dạy những phương pháp lập luận đúng đẩn, lôgío, có sức thuyết phục. Tất nhiên, muốn lập luận đúng đắn thì suy nghĩ phải mình bạch và ldgie. „ Hạc phấi tìm hiểu những quy luật của sự nhận thức đúng đấn, Để cố nhận thức đối với một đối tượng, phải có 4 diều kiện, tức a.
Chủ thể nhân thức, tức là người nhân. Đối tượng nhận thức, hày hỏi rổ "hơn, đối tượng mà cone người nhân thức. Ban than sy nhan thife va, d. Công cụ nhân thức.
Một thí âu, déoé nhân thức của chúng ta (chủ thể nhận thức) đối với một cái hoa (đối tượng của nhận thức), để có cụ nhận thức nhận thức đó, chúng ta phải có và đòngcông Nhận thức làcon mắt thấy. Con mất là một cảm quan. cấi hoa của chúng ta là nhận thức qua cảm quan, một cách đúng, nếu “Tuy nhiên, để nhận thức sự vật như mắt thấy, tại nghe, chỉ dựa vào các cảm quan mà thỏi, sẽ không đủ, cho nên cần mũi ngửi, lưới nếm, tay sở mà thôi chiếu. sánh, đối dừng cá ý thức để so sánh sụy xét nữa.
8o s6 mà biết, sách Nhân mình học gọi lã tỳ lượng (Anumana). Cần thông qua các cảm quan mà biết thì gọi là hiện lượng, Anumama hay là Tỷ lượng : Đây là công cụ nhận thức thứ hai sau nhận thức cảm quan. Khái niệm tỷ lượng của học phái Nyaya rộng hơn là khái niệm của Phật giáo. Một thí dụ điển hình của tỷ lượng Phật giáo là từ khói, suy luận ra có lửa.
khói có liên hệ với lửa. Nhưng học phái Nyaya có thể đưa ra những ví dự như : Loài vật nào có chân xẻ móng thì loài ấy cúng có sừng. Mối liên hệ gita sừng và chân xế móng là không rõ. Học phái Nyaya cho rằng cổ sự liên hệ đố, nhưng con người không biết đó mà thôi.
: Oách lập luận của học phát Nyaya như sau ; 1. Ngọn nứi đầng xa kia có lửa. ở đâu có lửa thì đều có khói 4. Do ngọn núi ở xa đàng kia.
cổ khói cho nên ở đấy có lửa.Vi vậy ngọn núi đàng kia có lửa Kiểu lập luận như trên không phải là cho bản thân người nói, mà là chó người khác, người cần được phục. Điều này thấy rỏ ở chỗ thuyết ngay -Đừ đầu, khẳng định nhận định của mônh, là ở núi người nói đã và cuối cùng, sau khi đá lập luận xong, một đồng xạ cớ lửa, lần nứa đã khẳng định lại nhận định ban đầu của mình, 58 Nếu bỏ, và trên thực tế là có thể bỏ hai điểm “dau, va bất đầu lập luận bằng điểm ba : - Ở đầu có lửa thì ở đấy phải., ~ Vĩ ở núi đăng xa có khói, cho nến. ở :đấy phải có lửa - Do đố. ở núi đàng xa, có lửa, Thuyết nhân quả của học phái Nyaya-Vaivesika Học phái Nyaya phận biệt có ba loại nhân : 1.
Nhân vật chất. Thí dụ, sgi đan lại thành vải. Sợi là nhân vật chất của vải, thay là đất sét là cái nhân vật chất. Nhân phi vật chất.
Thí dụ, một đống chỉ rối bởi không Lhể làm thành vải được. Chỉ có kết hợp những chỉ đó với nhau mới có thể thành vải, Sự kết hợp đó là cái nhân phí vật chất củatấm vai. Nhân hiệu năng (fficient causel. Thí đụ, lao động của thợ dệt là-cái nhân hiệu năng tạo ra tấm vái.
, thực tại luận Hoe plidi Vais ika chữ trương đa nguyêu Vaisesika, sich Haw dich là Thắng luận. Thắngở đây só nghĩa là thù thắng, các học giả của phải này tự đề cao như vậy. Còn Vaisesikacó từ gốc vise nghĩa là cá Điệt, cá le adividuality): Người sáng lập là Kanada, một nhân vật huyền thoại. cho nến không rõ sinhquẩn ơ đâu và năm thủng nào.
Ông chủ trương đem vạn vật trong vd trụ thế giới phân làm sáu phạm trủ -.sách Hán gọi là sám cú. Sau này, độn thế kỷ 6 T.L luật sư Tuệ Nguyệt (Maticandra) kế nghiệp phát triển từ 6 phạm trủ lần đến 10 phạm tray goi là 10 cú. để thuyết mính vạn sự vạn vật s7 trong vũ trụ thế giới. Đùng 6 hay 10 phạm trù như là 6 hay 10 nguyên lý để đa nguyên.
thuyết minh thế giới;:cho nên họy phái này là số luận luận, chứ không phải là nhị nguyễn luận như (Sankhya). ` Cuốn sách cơ bán của học phái. là cuốn: Vaisesika sutra (thắng luận Kinh) gồm 370 câu kệ, theo truyền thuyết. là do chính Kanada soạn.
Hình như các học giá học thuyết này không quan tâm lắm để xây dựng một học thuyết hoàn chỉnh về vũ trụ luận. Điều quan tâm của họ chỉ là nhằm chứng minh những sự vật đối tượng của nhận thức là có thật, chứ không phải là ảo ảnh, là không rỗng như phái Trủng quán của Phật giáo Đại thừa và học phát Advaits của Sankara chủ trương. ' ns § Sdu phạt trù theo cuốn Vaisesika suträ là : 1. Nghĩa là thực chất (eubstances).
Sách Hán dịch là Thực. Thực là thực thể hay la ban chat. Sự vật øì cũng cố thực thể, có ban chat cba nd. Guna là thuộc tánh.
Sách Hán dịch là đức. Nói thuộc tánh gủa sự vật tức là nói tính chất, tướng trang. của sự vật đó. Karrna là vận động của sự vật, động thái của sự vật.
Sách Hán dịch là nghiệp. Đồng là tính đồng nhất của cắc sự vật. Thí dụ, các con hò có tính chung về đồng nhất của chúng. Sách Anh ngữ địch là Univergdl ` sẽ 5.
Dị là tínb khác biệt. Tuy cá con bò có tính đồng nhất của chúng, nhưng mỗi con bò lại có những nét đị biệt riêng. Từ sanskrit là visesa, : 6. Từ sanskrit là saravaya.
Sách Anh ngữ dich 1A Necessary relati. Tic ta noi một sự liên hệ mật thiết đến mức, nếu thiếu nó, thì một trong hai đối tượng liên hệ sẽ không thể tồn tại. Ở dây, tất nhiên, không thể đi vào chỉ tiết của mỗi phạm trù. Nay chỉ đơn cử phạm trù thực (dravya).
Đó là những thực thể đơn nhất, không thể chía cắt và có thực. Học phái phân biệt có 9 thực là : 1. akasa (ete) 6 và 7 : thời gian và không gian. cái Ta (nguyên lý tỉnh thần, được xem như là có nhiều, mỗi cái Ta đều là vĩnh.
hằng và tồn -tại khắp mọi nơi, nhưngvì vướng vào Chân xác, cho nên hoạt động của cái Ta bị hạn chếở nơi nào có thân. Tâm thức (có thể hiểu như là quan năng của tư duy, phân biệt. Sách Hán dich là ý. Như chúng ta thấy, nói học phát này là thực tại đa nguyên luận là có cái lý của nó.
Học phái sankhya-yoga (Hán định Số Luận) Quyền sách sớm nhất trình bày học thuyết Sankhaya là cuốn “Sanikbaya - karika”. Karika là câu vệ. Cuốn sách ta đời vào khoảng thế kỷ 6 sau CN, và tác giả là Isvarakrsnia. Quyển sách có 70 bài tất cã.
Cuốn sách được Paramartha (Chân để) dịch ra chử Hán, vào thế kỷ thứ Vĩ. Ông này đến Trung Hoa và nim 546, và dịch nhiều sách kinh và luận Phật giáo. Trong dố sách dịch, có cuốn “70 bài giảng ‘os về học phái Sankhaya”, cũng goi 1a “70 bai giảng quý - hiếm như vàng" (Kim thất thận luận). Một cuốn, sách khác cũng quan trọng là cuốn “ŠSankhya.
Sutra” ma theo truyền thuyết chính là do Kapila soạn. Kapila, một nhân vật. huyền thoại, được xem như là ông Tổ sáng lập ra học thuyết. Quyển sách có 6 chương, trong đó 4 chương dành cho trình bày học thuyết, hai chương còn lại dành cho phản.
bác các họe thuyết khác. Còn quyển sách kinh điển của học phái Yoga là cuốn Yoga sutra do Patanjali soạn, không xưa hơn thế kỷ sau CN, tuy rằng môn học Yoga có từ lâu đời. Patanjali bất quá chỉ giới thiệu lại một học phái vốn có từ thời xa xưa. Nội dung học thuyết Thuyết Sankhya là một thuyết nhị nguyên, cho rằng thể giới vũ trụ bất nguồn từ hai pháp là Prakrti là yếu tố-nguyên nhân tạo ra thế giới vũ trụ vật chất sách Hán dịch là Tự Tánh.
Pháp thứ hai là purusa, tức tỉnh thần, sách Hán định thân ngã thời gian, không gian đều là sản phẩm của prakrti, là hai cạnh khía của prakrti. Trong kbi đó thì phương Tây thường cho rằng vật chất tồn. tại trong thời gian và không gian, Như vậy, khái niệm prakrti tưởng tự như khái niêm vật chất thời biện dai. Ba yếu tố cấu thành prakrti là sattva, rajas va tamas.
tố này có tên chung là gunas. Đó là yếu tố cấu thành chứ không phải là thuộc tỉnh (qualities). Có sách đồng nhất satbva với đức hạnh (virtue), rajes với dục vọng, (passion) va tamas với vô minh, si, Guna attva hiện hữu trong tất cá những cái gì hưởng tới chân lý, cái đẹp, trí tuệ, điều thiện. Guana rajas hiện hữu trong tất cả nhứng gì là bạo lực, năng động hăng hái.
Còn guna tamas thì hiện hứa trong tất cả những gì là đen tối, ngu đền, bất hạnh, Tôi tệ. Gunas, sich Trung Quốc dịch là Đức, với các nghĩ. thuộc tính hay là yếu tố cấu thành. Không được hiểu Đức.
là đức hạnh.