Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1. Những vấn đề chung về viên chức và đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Khái niệm Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 quy định: "Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước".
Khoản 1 Điều 2 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập cũng quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” Tương tự những ĐVSNCL khác, ĐVSNYTCL được xác định dựa vào các tiêu chuẩn như sau: Thứ nhất, đơn vị phải có văn bản thành lập ĐVSNYTCL do cơ quan có thẩm quyền Trung ương, địa phương quy định; Thứ hai, đơn vị nhà nước cung cấp kinh phí tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo chế độ nhà nước quy định; Thứ ba, đơn vị có tổ chức, bộ máy, biên chế theo quy định; Thứ tư, đơn vị có tài khoản Kho bạc ngân hàng để ký gửi khoản thu, chi tài chính. [20] Dựa vào các cơ sở trên có thể hiểu, ĐVSNYTCL là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe. 12 download by : skknchat@gmail. Đặc điểm Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 khoá XII của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã khẳng định “Ngành Y là một ngành đặc biệt”.
Do đó, bên cạnh những điểm chung cơ bản của một ĐVSNCL, các ĐVSNYTCL còn mang một số đặc điểm “đặc biệt”, riêng biệt sau: Một là, ĐVSNYTCL là một hệ thống lớn, một phức hợp và là một tổ chức động, có chức năng là đảm bảo sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, là trung tâm đào tạo cán bộ y tế. ĐVSNYTCL là một hệ thống lớn bao gồm: Ban Giám đốc, các phòng chuyên môn nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.có mối liên hệ mật thiết, bổ trợ chuyên môn kỹ thuật cho nhau; là một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc, vật tư y tế cần thiết để chẩn đoán điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh hoặc phục hồi sức khỏe, hoặc người bệnh tử vong. [43] Hai là, các ĐVSNYTCL chịu trách nhiệm cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực y tế cho xã hội.
Các dịch vụ này nhằm phục vụ nhu cầu về y tế của xã hội, phải tuân thủ các yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ hướng tới chăm sóc sức khỏe người bệnh. Dịch vụ sự nghiệp công về y tế được cung ứng có thể sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hoặc không. Ba là, sản phẩm của ĐVSNYTCL là sản phẩm đặc biệt, đó là sức khỏe, sinh mạng con người, là sức lao động của xã hội. Ngành tế có chức năng đặc biệt, là chăm sóc, bảo vệ và nâng cao thể lực của con người nên có một vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển nguồn lực con người, từ đó phát huy được năng lực lao động, chất xám và tạo được môi trường trọng dụng nhân tài của xã hội.
Bốn là, ĐVSNYTCL là bộ mặt của ngành Y tế, các kỹ thuật được sử dụng của bệnh viện thể hiện năng lực và phản ánh trình độ y học của đơn vị, quốc gia đó. Khái niệm 13 download by : skknchat@gmail.com Khái niệm VC được định nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta và được thay đổi theo từng thời kỳ tùy thuộc vào quan điểm của Nhà nước và sự phát triển của nền hành chính, của xã hội. Hiến pháp năm 1992 sử dụng cụm từ “cán bộ, công chức” để chỉ những người làm việc trong các cơ quan nhà nước và các ĐVSNCL. Theo đó, VC là một khái niệm rất rộng, để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước.
Ngày 13/11/2008, Quốc hội thông qua Luật Cán bộ, công chức đã thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc chuyên biệt hóa đối tượng phục vụ trong các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng làm việc tại các ĐVSNCL, tách hẳn nhóm đối tượng VC ra khỏi phạm vi cán bộ, công chức, phân biệt giữa hoạt động công vụ của công chức với hoạt động có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ của VC, nhằm hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển các ĐVSNCL, nâng cao chất lượng của đội ngũ VC. Theo Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010, khái niệm VC chính thức luật hóa như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức 2008, người đứng đầu ĐVSNCL là công chức. Tuy nhiên, tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019, đối tượng này được xác định là VC, thay vì là công chức như trước đây.
Như vậy, VC được xác định theo các tiêu chí: được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc trong các ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, bao gồm cả người đứng đầu ĐVSNCL; hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL. Đặc điểm Trên cơ sở khái niệm VC được định nghĩa trong Luật viên chức 2010 và một số văn bản quy phạm pháp quy định các vấn đề liên quan đến VC thì VC bao gồm những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, là công dân Việt Nam. 14 download by : skknchat@gmail.com Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: VC phải là người được được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng VC là vị trí việc làm.
Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu VC để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý VC trong ĐVSNCL”. Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 cũng quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng của VC như sau: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”. Thứ ba, về chế độ làm việc: không phân thành ngạch mà phân thành hạng VC (có 4 hạng khác nhau) và làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc. VC được đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc ĐVSNCL được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với VC theo các trường hợp được quy định trong Luật Viên chức.
Thứ tư, về nơi làm việc: VC làm việc trong ĐVSNCL. Thứ năm, VC hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật. Thứ sáu, VC là những người mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho xã hội. Những hoạt động này không nhân danh quyền lực nhà nước, không phải là các hoạt động quản lý nhà nước mà chỉ mang tính nghề nghiệp gắn với nghiệp vụ, chuyên môn.
Thứ bảy, về biên chế: Không còn biên chế suốt đời nếu được tuyển dụng sau ngày 01/7/2020, trừ: VC được tuyển dụng trước ngày 01/7/2020 đáp ứng điều kiện; Cán bộ, công chức chuyển sang làm VC; Người được tuyển dụng vào VC làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Viên chức trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Khái niệm Khái niệm VC được định nghĩa trong Luật viên chức 2010 là nền tảng để xây dựng khái niệm VC trong ĐVSNYTCL. Xét ở một khía cạnh nào đó, VC được tiếp cận theo nghĩa rộng, còn VC trong ĐVSNYTCL được tiếp cận ở góc độ hẹp hơn, là 15 download by : skknchat@gmail.com công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các ĐVSNCL trong lĩnh vực y tế theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNYTCL theo quy định của phápluật.
Tóm lại, có thể hiểu, VC trong ĐVSNYTCL là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ theo vị trí việc làm trong các ĐVSNCL thuộc ngành Y tế nhằm cung cấp các dịch vụ công thuộc lĩnh vực y tế cho xã hội. Phân loại Căn cứ vào các tiêu chí, VC trong ĐVSNCL ngành Y tế có thể được phân thành các loại khác nhau nhằm phù hợp với mục đích sử dụng. Trong ĐVSNYTCL, có 02 nhóm VC cơ bản, đó là VC làm công tác khám, chữa bệnh, điều trị tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng và VC làm công tác hỗ trợ phục vụ tại các phòng chức năng (VC hành chính). Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đi sâu phân tích về nhóm VC tham gia khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại các khoa.
VC trong ĐVSNCL ngành Y tế cũng có thể phân loại căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và trình độ chuyên môn khi được tuyển dụng. Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành các Thông tư liên tịch quy định cụ thể tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với đội ngũ VC ngành Y tế. Theo đó, những VC thuộc các nhóm công việc hoạt động nghề nghiệp sẽ được phân loại theo vị trí chức danh nghề nghiệp.