Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Công cuộc Đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Việt Nam đã đưa đất nước từ tình trạng thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu. Đồng hành cùng quá trình chuyển đổi này là hệ thống Khuyến nông Việt Nam, được thành lập chính thức từ Nghị định số 13/CP ngày 02/03/1993, tiếp tục được điều chỉnh qua Nghị định số 56/2005/NĐ-CP và hoàn thiện tại Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010. Nghị định 02/2010/NĐ-CP đã quy định rõ ràng hơn về cơ chế quản lý, nội dung hoạt động và đặc biệt là chính sách hỗ trợ đối với đội ngũ cán bộ khuyến nông (CBKN) cơ sở – lực lượng trực tiếp chuyển giao khoa học kỹ thuật (KHKT) tới từng thôn bản, hộ sản xuất.

Huyện Yên Bình là huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam tỉnh Yên Bái, sở hữu diện tích mặt nước hồ Thác Bà trên 15.000 ha, tạo nên tiểu vùng khí hậu mang tính chất vùng hồ (mùa đông ít lạnh, mùa hè mát mẻ). Điều kiện tự nhiên này tạo thế mạnh phát triển nông, lâm nghiệp, cây công nghiệp (chè, cao su), cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản. Nhằm khai thác tiềm năng địa phương, huyện Yên Bình đã sớm kiện toàn tổ chức khuyến nông: Trạm Khuyến nông huyện có 08 cán bộ (07 cán bộ chuyên môn, 01 kế toán) và 26 CBKN cơ sở phụ trách 26 xã, thị trấn. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động thực tế, mức độ phát huy vai trò và năng lực chuyển giao tiến bộ kỹ thuật của đội ngũ này tại cơ sở vẫn cần được đánh giá cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu thực trạng, vai trò của đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở tại địa phương.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá được thực trạng hoạt động của đội ngũ CBKN cơ sở tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
    • Xác định được vai trò của đội ngũ CBKN cơ sở tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
    • Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ CBKN cơ sở tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các cán bộ khuyến nông đang công tác ở các xã tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi nghiên cứu: Xác định vai trò của đội ngũ CBKN cơ sở trên địa bàn huyện Yên Bình.
  • Địa điểm và thời gian: Nghiên cứu thực hiện tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, trong thời gian từ ngày 10/02/2014 đến ngày 10/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý luận của đề tài tiếp cận khái niệm khuyến nông theo hai tầng nghĩa:

  • Nghĩa rộng: Khuyến nông là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn, bao gồm hướng dẫn kỹ thuật mới, liên kết nông dân ứng phó thiên tai, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, phổ biến chính sách pháp luật và nâng cao năng lực tự quản cộng đồng.
  • Nghĩa hẹp: Khuyến nông là tiến trình giáo dục không chính thức ngoài nhà trường dành cho người nông dân, cung cấp thông tin và tư vấn nhằm nâng cao hiệu quả canh tác và cải thiện chất lượng sống.

Về mặt chức năng và vai trò, nghiên cứu áp dụng mô hình phân tích 7 vai trò cốt lõi của người cán bộ khuyến nông đối với người nông dân: Người đào tạo, Người cố vấn, Người tổ chức, Người cung cấp thông tin, Người quản lý, Người môi giới và Người hành động. Đồng thời, đề tài tổng quan hai quan điểm mục tiêu trong công tác khuyến nông: quan điểm tập trung truyền thống (nhằm tăng năng suất, chuyển giao một chiều từ trên xuống) và quan điểm có sự tham gia (nhằm giải quyết vấn đề, cùng tạo ra kiến thức, hỗ trợ nông dân tự lực).

Khung pháp lý và cơ sở thực tiễn vận dụng bao gồm: Nghị định 13/CP (1993), Nghị định 56/2005/NĐ-CP (2005), Nghị định 02/2010/NĐ-CP (2010) của Chính phủ; Thông tư số 02/LB/TT; và Quyết định số 02/QĐ-TKN ngày 01/02/2012 của Trạm Khuyến nông huyện Yên Bình ban hành Quy chế hoạt động của khuyến nông viên cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp chọn mẫu:
    • Địa bàn huyện được chia thành 3 cụm xã: Hạ huyện, Thượng huyện và Cụm đường 7 (chạy dọc Quốc lộ 70).
    • Chọn mẫu cán bộ khuyến nông: Chọn ngẫu nhiên 5 xã tại mỗi cụm, tiến hành phỏng vấn 15 cán bộ khuyến nông xã ($n = 15$).
    • Chọn mẫu hộ nông dân: Mỗi cụm chọn 2 xã, mỗi xã chọn 2 thôn, mỗi thôn chọn 5 hộ; thực hiện phỏng vấn chính thức 60 hộ nông dân ($n = 60$).
    • Khảo sát đánh giá kỹ năng: Thu thập ý kiến đánh giá từ 82 đối tượng ($n = 82$), bao gồm 15 CBKN cơ sở, 7 cán bộ công tác tại Trạm Khuyến nông huyện và 60 hộ nông dân.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ báo cáo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông huyện, UBND huyện Yên Bình giai đoạn 2011 - 2013 và các văn bản chính sách liên quan.
    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phỏng vấn chính thức bằng phiếu điều tra cấu trúc đối với CBKN và nông dân; phỏng vấn bán chính thức bằng bảng kiểm nội dung đối với lãnh đạo Trạm Khuyến nông và lãnh đạo UBND cấp xã.
  • Phương pháp xử lý và phân tích: Dữ liệu được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh chuỗi số liệu hoạt động trong 3 năm (2011 - 2013).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài dựa trên tiến trình thể chế hóa công tác khuyến nông tại Việt Nam và thực tiễn phát triển nông nghiệp tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Tác giả xác lập hệ thống mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu để Trạm Khuyến nông huyện rà soát, bố trí mạng lưới khuyến nông viên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất, chức năng, mục tiêu và vai trò của khuyến nông; phân tích lịch sử hình thành hoạt động khuyến nông trên thế giới (từ châu Âu thế kỷ XIV, Hoa Kỳ năm 1843 đến khu vực châu Á từ năm 1955). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại các dấu mốc lịch sử từ thời phong kiến (chức Khuyến nông sứ năm 1226, Chiếu khuyến nông năm 1789) đến các chủ trương thời kỳ đổi mới như Chỉ thị 100 (1981), Nghị quyết 10 (1988) và Nghị định 02/2010/NĐ-CP. Đồng thời, chương này tổng kết quy mô mạng lưới khuyến nông cả nước (khoảng 17.200 cán bộ chuyên trách, gần 10.000 câu lạc bộ khuyến nông với 300.000 nông dân) và phân tích các quy định về nhiệm vụ, chế độ viên chức của CBKN cơ sở theo Quyết định 02/QĐ-TKN của Trạm Khuyến nông huyện Yên Bình.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung thiết kế nghiên cứu thực địa tại huyện Yên Bình từ ngày 10/02/2014 đến ngày 10/05/2014. Xác định quy trình phân tầng địa bàn theo 3 cụm xã, công thức và phương pháp chọn mẫu điều tra sơ cấp ($n = 15$ CBKN xã, $n = 60$ hộ nông dân, $n = 82$ phiếu đánh giá kỹ năng), kỹ thuật phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê mô tả, thống kê so sánh trên Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 cung cấp dữ liệu toàn diện về điều kiện địa phương, thực trạng đội ngũ và hiệu quả hoạt động khuyến nông:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Yên Bình: Tổng diện tích tự nhiên đạt 77.319,67 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 57.690,43 ha (74,61%). Nhóm đất đỏ vàng Feralit chiếm 61%. Nhiệt độ trung bình năm 2013 là 22,95°C, tổng lượng mưa 2.353,4 mm, độ ẩm trung bình 79,25%. Dân số toàn huyện là 107.398 người với 5 dân tộc chính (Kinh 37%, Tày 25%, Nùng 18%, Dao 12%, Cao Lan 8%), lực lượng lao động nông thôn chiếm 76,5%, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 18,84% và cận nghèo chiếm 9,52%. Tăng trưởng kinh tế năm 2013 đạt 14,5%, thu nhập bình quân đầu người đạt 24,5 triệu đồng/năm.
Chỉ tiêu cây trồng chính Năm 2011 (DT - NS - SL) Năm 2012 (DT - NS - SL) Năm 2013 (DT - NS - SL)
Lúa 4.494,3 ha - 48,5 tạ/ha - 21.791,0 tấn 4.463,8 ha - 49,5 tạ/ha - 22.107,5 tấn 4.479,8 ha - 50,7 tạ/ha - 22.760,0 tấn
Ngô 1.891,9 ha - 30,0 tạ/ha - 5.469,1 tấn 1.604,3 ha - 27,1 tạ/ha - 4.351,9 tấn 1.711,0 ha - 31,0 tạ/ha - 5.303,2 tấn
Chè kinh doanh 1.901,0 ha - 81,0 tạ/ha - 15.398,0 tấn 1.910,0 ha - 83,0 tạ/ha - 15.853,0 tấn 1.886,0 ha - 94,5 tạ/ha - 17.822,7 tấn
Sắn 3.364,3 ha - 225,6 tạ/ha - 75.898,0 tấn 3.213,0 ha - 210,0 tạ/ha - 67.473,0 tấn 3.196,0 ha - 210,5 tạ/ha - 67.275,8 tấn
Cây ăn quả 1.290,0 ha - 72,0 tạ/ha - 9.288,0 tấn 1.038,0 ha - 72,5 tạ/ha - 7.526,0 tấn 1.040,0 ha - 75,7 tạ/ha - 7.872,2 tấn

Về chăn nuôi và thủy sản: Năm 2013, tổng đàn trâu đạt 13.065 con, đàn bò đạt 3.650 con, đàn lợn đạt 78.000 con (tăng 13,7% so với 2011), đàn gia cầm đạt 434.133 con (tăng 37,8% so với 2011). Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 881,8 ha, số lồng cá trên hồ Thác Bà là 360 lồng, sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 2.300 tấn. Mô hình nuôi trâu bò nhốt tại xã Tích Cốc mang lại thu nhập khoảng 15 triệu đồng/con/năm.

  • Thực trạng đội ngũ CBKN cơ sở huyện Yên Bình: Toàn huyện có 26 cán bộ phụ trách 26 xã, thị trấn. Cơ cấu trình độ có sự chuyển dịch tích cực: Năm 2011 có 20 cán bộ đại học (76,92%), 6 trung cấp (23,08%); đến năm 2013 có 23 cán bộ đại học (88,46%) và 3 cán bộ trung cấp (11,54%). Về chuyên ngành đào tạo năm 2013: Lâm nghiệp chiếm đa số với 12 người (46,15%), Công nghệ sinh học 5 người (19,23%), Trồng trọt 4 người (15,38%), Chăn nuôi - Thú y 2 người (7,69%), Nuôi trồng thủy sản 1 người (3,85%); 100% cán bộ không được đào tạo đúng chuyên ngành Khuyến nông.
Tiêu chí đánh giá kỹ năng ($n = 82$) Số ý kiến đạt Tỷ lệ (%) Phẩm chất đạo đức của CBKN ($n = 60$) Số ý kiến đánh giá Tỷ lệ (%)
Kỹ năng giao tiếp 69 86,3% Nhiệt tình, yêu nghề, trách nhiệm 58 96,67%
Kỹ năng quan sát 67 83,8% Tôn trọng, tiếp thu ý kiến dân 55 91,67%
Kỹ năng lắng nghe 57 71,3% Chịu khó, không ngại khó khổ 55 91,67%
Kỹ năng thuyết trình 52 65,0% Thường xuyên bám sát cơ sở 49 81,67%
Kỹ năng phản hồi 50 62,5% - - -
Kỹ năng thúc đẩy hỗ trợ 44 55,0% - - -

Đánh giá của 60 hộ nông dân về thái độ và năng lực công tác cho thấy: 40,0% đánh giá CBKN rất nhiệt tình, 53,33% đánh giá nhiệt tình, 6,67% đánh giá bình thường. Về khả năng truyền đạt: 23,33% nhận xét rất dễ hiểu, 68,33% dễ hiểu, 8,34% bình thường. 93,33% xác nhận CBKN có tiếp thu ý kiến phản hồi của dân. Về mức độ đáp ứng công việc: 53,33% đánh giá đáp ứng được, 46,67% đánh giá đáp ứng một phần, 0% chưa đáp ứng được.

Hoạt động khuyến nông huyện Yên Bình Năm 2011 (KH - TH - %TH) Năm 2012 (KH - TH - %TH) Năm 2013 (KH - TH - %TH)
Số lớp tập huấn kỹ thuật (Lớp) 350 - 446 - 128,2% 350 - 503 - 147,7% 350 - 518 - 148,0%
Xây dựng mô hình trình diễn (Mô hình) 70 - 46 - 65,7% 50 - 100 - 200,0% 50 - 243 - 486,0%
Thông tin tuyên truyền (Tin, bài) 200 - 266 - 133,0% 200 - 215 - 107,5% 200 - 315 - 157,5%
Duy trì CLB khuyến nông (CLB) 35 - 35 - 100,0% 35 - 35 - 100,0% 35 - 35 - 100,0%
Hỗ trợ xây dựng hầm Biogas (Hầm) 50 - 50 - 100,0% 50 - 58 - 116,0% 50 - 56 - 112,0%
Mô hình chăn nuôi hàng hóa (Mô hình) 25 - 44 - 156,0% 38 - 99 - 260,5% 29 - 28 - 96,5%

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp những kết quả đạt được về năng lực, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và đóng góp của đội ngũ CBKN cơ sở vào sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại huyện Yên Bình; nêu bật các hạn chế về phương pháp sư phạm người lớn và chế độ đãi ngộ, từ đó đưa ra các kiến nghị đối với UBND tỉnh Yên Bái, Sở NN&PTNT và Trạm Khuyến nông huyện Yên Bình.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Về nhân sự và trình độ: Huyện Yên Bình hoàn thành bao phủ 100% xã, thị trấn có cán bộ khuyến nông chuyên trách (26 người). Tỷ lệ đạt trình độ đại học tăng từ 76,92% (2011) lên 88,46% (2013). Tuy nhiên, cơ cấu chuyên môn bị lệch khi ngành Lâm nghiệp chiếm 46,15%, Công nghệ sinh học chiếm 19,23%, Trồng trọt chiếm 15,38%, trong khi ngành Chăn nuôi - Thú y và Thủy sản chỉ chiếm lần lượt 7,69% và 3,85%, hoàn toàn không có cán bộ chuyên ngành Khuyến nông.
  • Về năng lực và kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp (86,3%) và quan sát (83,8%) được đánh giá cao nhất. Kỹ năng thuyết trình (65,0%) và kỹ năng thúc đẩy hỗ trợ (55,0%) là điểm yếu lớn nhất do cán bộ chưa qua đào tạo phương pháp sư phạm người lớn; chỉ có 6/15 cán bộ tự tin với kỹ năng thuyết trình trước đám đông.
  • Về kết quả hoạt động khuyến nông (2011 - 2013): Khối lượng công việc thực hiện hàng năm đều vượt chỉ tiêu kế hoạch được giao. Năm 2013 đã tổ chức 518 lớp tập huấn kỹ thuật (đạt 148% kế hoạch), xây dựng 243 mô hình trình diễn (đạt 486% kế hoạch), xuất bản 315 tin bài tuyên truyền (đạt 157,5% kế hoạch), hỗ trợ xây dựng 56 hầm Biogas và duy trì hoạt động của 35 câu lạc bộ khuyến nông.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Công tác đào tạo, bồi dưỡng: Định kỳ tổ chức các lớp tập huấn phương pháp khuyến nông, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng thúc đẩy và phương pháp đào tạo người lớn cho 100% CBKN cơ sở. Bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về chăn nuôi gia súc, thú y và nuôi trồng thủy sản nước ngọt để bù đắp sự thiếu hụt chuyên ngành.
  • Cơ chế chính sách và chế độ đãi ngộ: Đề nghị các cấp có thẩm quyền xem xét tăng mức phụ cấp công vụ, hỗ trợ chi phí đi lại cho cán bộ phụ trách các xã vùng sâu, vùng xa có địa bàn chia cắt phức tạp.
  • Tăng cường cơ sở vật chất: Trang bị tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chuẩn hóa, máy tính và phương tiện trình chiếu lưu động phục vụ công tác tập huấn hiện trường.
  • Cơ chế phối hợp công tác: Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa Trạm Khuyến nông huyện (quản lý chuyên môn kỹ thuật) và UBND cấp xã (quản lý nhân sự hành chính) nhằm nâng cao tính chủ động và trách nhiệm bám sát cơ sở của khuyến nông viên.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã bổ sung nguồn dữ liệu thực chứng chi tiết về mạng lưới khuyến nông cấp xã tại địa bàn miền núi có đặc thù vùng hồ Thác Bà. Khác với các nghiên cứu trước đây tại huyện Tràng Định (Lạng Sơn) hay huyện Quế Võ (Bắc Ninh), nghiên cứu tại Yên Bình chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa cơ cấu chuyên ngành đào tạo của CBKN với khả năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại vùng hồ thủy điện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát sơ cấp giới hạn tại 15/26 xã, thị trấn với dung lượng mẫu $n = 60$ hộ nông dân và $n = 15$ cán bộ khuyến nông.
  • Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (từ tháng 02/2014 đến tháng 05/2014), chưa theo dõi trọn vẹn chu kỳ sản xuất cả năm của tất cả các loại cây trồng và mô hình chăn nuôi.
  • Đề tài tập trung chủ yếu vào các phương pháp thống kê mô tả và so sánh, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để định lượng hóa mức độ tác động của hoạt động khuyến nông đối với năng suất hoặc thu nhập của hộ nông dân.

Hướng mở rộng nghiên cứu:

  • Mở rộng khảo sát toàn diện 100% các xã và tăng quy mô mẫu hộ nông dân để phân tích sâu hơn theo từng tiểu vùng địa hình (vùng hồ, vùng dọc Quốc lộ 70, vùng núi cao).
  • Nghiên cứu định lượng đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các mô hình khuyến nông trọng điểm (nuôi cá lồng hồ Thác Bà, trồng chè giống mới LDP1/LDP2/Bát Tiên, chăn nuôi gia súc nhốt chuồng).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp khi tìm hiểu phương pháp thiết kế phiếu điều tra, chọn mẫu phân tầng và kỹ thuật đánh giá năng lực cán bộ cơ sở.
  • Cán bộ quản lý tại Trạm Khuyến nông và Phòng Nông nghiệp & PTNT các huyện miền núi trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng mềm và quy hoạch nhân sự khuyến nông viên cấp xã.
  • Các nhà nghiên cứu chính sách nông nghiệp tham khảo số liệu thực tế giai đoạn đầu triển khai Nghị định 02/2010/NĐ-CP tại tỉnh Yên Bái.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở huyện Yên Bình năm 2013 được phân bổ như thế nào?

Theo số liệu tại Bảng 4.4, năm 2013 toàn huyện có 26 CBKN cơ sở, trong đó có 23 người đạt trình độ đại học (88,46%) và 3 người trình độ trung cấp (11,54%). Về chuyên ngành: Lâm nghiệp có 12 người (46,15%), Công nghệ sinh học có 5 người (19,23%), Trồng trọt có 4 người (15,38%), Chăn nuôi - Thú y có 2 người (7,69%) và Nuôi trồng thủy sản có 1 người (3,85%). Không có cán bộ nào được đào tạo đúng chuyên ngành Khuyến nông.

2. Kỹ năng nào của cán bộ khuyến nông cơ sở được đánh giá cao nhất và kỹ năng nào còn yếu nhất?

Kết quả khảo sát tại Bảng 4.5 ($n = 82$) chỉ ra: Kỹ năng giao tiếp đạt tỷ lệ đánh giá tốt cao nhất với 86,3% (69 ý kiến), tiếp theo là kỹ năng quan sát đạt 83,8% (67 ý kiến). Ngược lại, kỹ năng thuyết trình (65,0%) và kỹ năng thúc đẩy hỗ trợ (55,0%) có tỷ lệ đánh giá thấp nhất do cán bộ chưa từng được đào tạo bài bản về phương pháp sư phạm và kỹ năng làm việc với người lớn tuổi.

3. Khối lượng các hoạt động khuyến nông huyện Yên Bình năm 2013 so với kế hoạch đề ra đạt kết quả ra sao?

Theo Bảng 4.9, năm 2013 huyện Yên Bình đã tổ chức 518 lớp tập huấn kỹ thuật (đạt 148,0% kế hoạch 350 lớp), triển khai 243 mô hình trình diễn (đạt 486,0% kế hoạch 50 mô hình), thực hiện 315 tin bài tuyên truyền (đạt 157,5% kế hoạch 200 tin bài), duy trì 35 câu lạc bộ khuyến nông (đạt 100% kế hoạch) và nghiệm thu 56 hầm Biogas (đạt 112,0% kế hoạch 50 hầm).

4. Người nông dân địa phương đánh giá như thế nào về thái độ và khả năng đáp ứng công việc của khuyến nông viên cơ sở?

Tại Bảng 4.7 ($n = 60$), 93,33% nông dân nhận xét cán bộ khuyến nông nhiệt tình hoặc rất nhiệt tình trong công việc (40,0% rất nhiệt tình, 53,33% nhiệt tình); 91,66% đánh giá khả năng truyền đạt dễ hiểu và rất dễ hiểu. Về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc, 53,33% cho rằng cán bộ đáp ứng được, 46,67% đánh giá đáp ứng một phần và 0% đánh giá chưa đáp ứng được.

5. Mô hình chăn nuôi thử nghiệm mới nào tại địa phương được ghi nhận đem lại hiệu quả kinh tế cụ thể?

Văn bản ghi nhận mô hình chăn nuôi trâu bò nhốt (trồng cỏ làm thức ăn nuôi nhốt trong chuồng) triển khai tại Thôn 1 và Thôn 2 thuộc xã Tích Cốc. Mô hình thử nghiệm trên 2 hộ dân (quy mô 2 con/năm) mang lại hiệu quả kinh tế khoảng 30 triệu đồng/năm, tương đương thu nhập 15 triệu đồng/con/năm sau khi trừ chi phí.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đã phản ánh bức tranh thực chứng toàn diện về tổ chức và hoạt động của đội ngũ 26 cán bộ khuyến nông cơ sở tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 - 2013. Mặc dù đội ngũ có tỷ lệ chuẩn hóa trình độ đại học cao (88,46%) và tinh thần trách nhiệm tốt, công tác khuyến nông địa phương vẫn gặp rào cản do sự lệch pha chuyên ngành đào tạo và sự thiếu hụt kỹ năng thuyết trình, phương pháp sư phạm người lớn. Hệ thống giải pháp về bồi dưỡng kỹ năng mềm, điều chỉnh chế độ phụ cấp và củng cố quy chế phối hợp hành chính - chuyên môn được đề xuất là căn cứ thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả mạng lưới khuyến nông tại các địa bàn miền núi.