Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Khuyến nông của tác giả Phạm Thị Ngọc Anh (Khoa Kinh tế & Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2014) tập trung vào đề tài: “Điều tra sinh kế nông hộ tại xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với khoảng 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và gần 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn. Mặc dù kinh tế nông thôn giữ vai trò then chốt trong bảo đảm ổn định quốc gia, khu vực này vẫn đối mặt với nhiều rào cản như cơ sở hạ tầng yếu kém, rủi ro sản xuất cao, tỷ suất sinh lời thấp, trình độ dân trí và tay nghề còn hạn chế, cùng sức ép gia tăng về chi phí an sinh và ô nhiễm môi trường.

Tại địa bàn nghiên cứu – xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái – địa phương mang đặc trưng của vùng đồi núi thấp trung du, tiếp giáp sông Chảy và hồ Thác Bà, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (đặc biệt là hoạt động chế biến tinh bột sắn ướt). Tuy nhiên, địa bàn này cũng bộc lộ nhiều khó khăn: dân trí chưa đồng đều, xa trung tâm công nghiệp lớn, khó khăn trong việc tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật và giống mới, nguy cơ ô nhiễm môi trường từ chất thải chế biến và tình trạng dễ bị tổn thương về sinh kế của các hộ nghèo, hộ cận nghèo đồng bào dân tộc thiểu số.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương có liên quan đến sản xuất nông nghiệp.
  2. Điều tra, đánh giá các hoạt động sinh kế và thu nhập của cộng đồng các dân tộc tại địa phương.
  3. Đề xuất các giải pháp cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình nông dân cùng toàn bộ các hoạt động sinh kế (nông nghiệp và phi nông nghiệp) của họ tại xã Vĩnh Kiên.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát chọn mẫu tại 4 thôn thuộc vùng dự án của xã Vĩnh Kiên: thôn Khuân Đát, thôn Đồng Tha, thôn Đồng Tâm và thôn Khe Tam.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu sơ cấp qua điều tra nông hộ thực hiện vào tháng 3 năm 2014; thu thập số liệu thứ cấp và xử lý phân tích dữ liệu hoàn thành từ ngày 14/02/2014 đến ngày 19/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm tiếp cận

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về kinh tế hộ và phát triển sinh kế bền vững với các khái niệm, khung phân tích cụ thể:

  • Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững: Dựa trên các định nghĩa của Scoones (1998), Chambers & Conway (1992) và Báo cáo Brundtland (1987). Sinh kế được hiểu là sự kết hợp giữa các nguồn lực, khả năng tiềm tàng và các hoạt động kiếm sống nhằm duy trì cuộc sống và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc.
  • Khung phân tích sinh kế bền vững (SLA): Vận dụng khung phân tích của DFID và IFAD với 5 nhóm nguồn vốn sinh kế (H - Vốn con người, N - Vốn tự nhiên, S - Vốn xã hội, P - Vốn tài chính, P - Vốn vật chất), cùng mối quan hệ tương tác với bối cảnh dễ bị tổn thương, các thể chế/chính sách và chiến lược sinh kế.
  • Các quan điểm lý thuyết bổ trợ:
    • Quan điểm phát triển bền vững: Cân bằng giữa ba trụ cột "Kinh tế - Môi trường - Xã hội".
    • Lý thuyết cấu trúc chức năng (A. Durkheim, Spencer): Xem xét cấu trúc thôn bản và các thiết chế ban ngành đoàn thể như một chỉnh thể vận hành thống nhất.
    • Lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational Choice Theory): Giải thích hành vi lựa chọn phương thức sản xuất và phân bổ nguồn lực của nông hộ nhằm tối ưu hóa lợi ích trong điều kiện nguồn vốn hạn chế.
  • Khái niệm kinh tế hộ nông dân: Tiếp cận theo các nghiên cứu của Frank Ellis, Raul Ituna, Mc Gee, Đào Thế Tuấn (1997), Lê Đình Thắng (1993), Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010), Nguyễn Sinh Cúc (2011).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa văn bản, số liệu thống kê năm 2013 từ UBND xã Vĩnh Kiên, tài liệu từ thư viện Khoa Kinh tế & Phát triển Nông thôn (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và các công trình khoa học liên quan.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
    • Điều tra bảng hỏi: Chọn mẫu ngẫu nhiên 40 hộ gia đình phân bổ đều tại 4 thôn (10 hộ/thôn tại Khuân Đát, Đồng Tha, Đồng Tâm, Khe Tam). Bộ câu hỏi thu thập thông tin về nhân khẩu, lao động, an ninh lương thực, cơ cấu đất đai, hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, chế biến sắn và thu nhập phi nông nghiệp.
    • Quan sát trực tiếp: Ghi nhận thực địa tập quán canh tác, cơ sở hạ tầng và môi trường chế biến nông sản tại địa phương.
  • Phương pháp luận chung: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các hiện tượng kinh tế - xã hội trong tiến trình phát triển cụ thể.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tổng hợp, phân tổ và so sánh bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này làm rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu sinh kế nông hộ vùng trung du miền núi, xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đối tượng khảo sát và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài đối với công tác khuyến nông và hoạch định chính sách phát triển tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế, khung sinh kế DFID/IFAD, các nguồn vốn sinh kế và lý thuyết kinh tế hộ nông thôn. Phần này cũng tổng kết quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (trước 1954, 1955-1959, 1960-1980, giai đoạn Chỉ thị 100-CT/TW, Nghị quyết 10 năm 1988 và từ 2009 đến nay), kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia) và điểm luận các nghiên cứu sinh kế tương đồng tại Sơn La, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Nghệ An.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương quy định chi tiết địa bàn thực hiện (xã Vĩnh Kiên), quy mô mẫu khảo sát (40 hộ tại 4 thôn), quy trình thiết kế bảng hỏi, phương pháp thu thập số liệu sơ cấp - thứ cấp, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cần thu thập và kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng bảng biểu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Vĩnh Kiên và dữ liệu thực chứng từ 40 hộ điều tra:

1. Điều kiện tự nhiên và cơ cấu đất đai xã Vĩnh Kiên

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã năm 2013 là 2.717,88 ha, phân bổ theo các nhóm mục đích sử dụng như sau:

Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Đất nông nghiệp 1.886,99 69,43
- Đất sản xuất nông nghiệp 624,83 22,99
- Đất lâm nghiệp (100% rừng sản xuất) 1.253,76 46,13
- Đất nuôi trồng thủy sản 9,00 0,31
Đất phi nông nghiệp 829,70 30,53
- Đất ở 38,53 1,42
- Đất chuyên dùng 117,05 4,31
- Đất sông suối 671,97 24,72
- Đất tôn giáo tín ngưỡng, nghĩa địa 1,65 0,06
Đất chưa sử dụng 1,19 0,04
Tổng cộng 2.717,88 100,00

2. Tình hình sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp toàn xã (2013)

  • Cây trồng chính: Tổng diện tích gieo trồng đạt 687 ha, gồm Lúa (322 ha; năng suất 52,6 tạ/ha; sản lượng 1.693,72 tấn quy đổi theo bảng số liệu), Sắn (200 ha; năng suất 670 tạ/ha; sản lượng 13.400 tấn củ tươi), Ngô (155 ha; năng suất 37 tạ/ha; sản lượng 573,5 tấn), Lạc (10 ha; năng suất 14,6 tạ/ha; sản lượng 14,6 tấn).
  • Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc gia cầm toàn xã gồm 656 con trâu, 228 con bò, 6.057 con lợn, 57.160 con gia cầm và 9 ha diện tích ao cá.
  • Tiểu thủ công nghiệp chế biến sắn: Toàn xã có 10 nhà máy/xưởng chế biến tinh bột sắn ướt thuộc 8 chủ sở hữu (công suất bình quân 16,5 tấn củ tươi/ngày; dao động từ 5 - 30 tấn/ngày). Hoạt động chế biến kéo dài 3 - 4 tháng/năm (từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau), tỷ lệ thu hồi đạt 42 - 45% tinh bột ướt. Phụ phẩm bã sắn được 7 cơ sở kinh doanh thu gom với giá 280.000 đồng/tấn và bán lại cho người nuôi lợn trong và ngoài xã với giá 300.000 đồng/tấn.

3. Thực trạng sinh kế của 40 hộ điều tra

  • Đặc điểm nhân khẩu và phân loại hộ:
    • Quy mô bình quân: 4,15 nhân khẩu/hộ; 2,6 lao động chính/hộ.
    • Giới tính chủ hộ: 32 chủ hộ nam (80%), 8 chủ hộ nữ (20%).
    • Cấu trúc dân tộc mẫu: Kinh 19 hộ (47,5%), Cao Lan 13 hộ (32,5%), Dao 6 hộ (15%), Tày 2 hộ (5%).
    • Phân loại kinh tế hộ: Hộ nghèo 3 hộ (7,5%), Hộ cận nghèo 8 hộ (20%), Hộ khác/không nghèo 29 hộ (72,5%).
Thôn điều tra Tổng số hộ Hộ nghèo Hộ cận nghèo Hộ khác
Khuân Đát 10 2 1 7
Đồng Tha 10 0 4 6
Đồng Tâm 10 1 2 7
Khe Tam 10 0 1 9
Tổng cộng 40 3 (7,5%) 8 (20,0%) 29 (72,5%)
  • Quy mô đất đai bình quân theo nhóm hộ:

    • Đất canh tác: Bình quân chung 0,15 ha/hộ (Hộ nghèo: 0,14 ha; Hộ cận nghèo: 0,15 ha; Hộ khác: 0,16 ha).
    • Đất rừng sản xuất: Bình quân chung 1,26 ha/hộ (Hộ nghèo: 0,79 ha; Hộ cận nghèo: 1,51 ha; Hộ khác: 1,07 ha).
    • Đất thuê mướn: Nhóm nghèo phải thuê bình quân 0,07 ha/hộ, cận nghèo thuê 0,13 ha/hộ, nhóm hộ khác không thuê mướn.
  • Cơ cấu thu nhập của nông hộ:

    • Thu nhập nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng thu nhập hộ (bình quân 77,6%), trong đó hộ nghèo chiếm tới 93,5%, cận nghèo chiếm 91,3% và hộ khác chiếm 66,3%. Ngược lại, thu nhập phi nông nghiệp chỉ chiếm bình quân 26,3% (ở hộ nghèo là 5,0%, cận nghèo 8,3%, hộ khác 37,1%).
    • Trong nội bộ nguồn thu nông nghiệp: Trồng trọt chiếm bình quân 67,7% (ở hộ nghèo là 82,5%, cận nghèo 66,8%, hộ khác 55,8%); Chăn nuôi chiếm bình quân 32,3% (hộ nghèo 17,5%, cận nghèo 33,2%, hộ khác 44,2%).
Loại cây trồng / Vật nuôi Tỷ lệ hộ tham gia (%) Tỷ trọng đóng góp thu nhập bình quân của hộ tham gia (%)
Trồng trọt
- Lúa 100,0 46,1
- Sắn 80,0 32,5
- Cây lâm nghiệp (Keo, Mỡ) 32,5 56,2
- Lạc 35,0 11,8
- Ngô 27,5 16,8
Chăn nuôi & Thủy sản
- Gà 62,5 52,2
- Lợn 50,0 56,5
- Bò 20,0 17,0
- Nuôi thả cá 15,0 55,0
- Vịt 15,0 25,8
- Trâu 5,0 10,0
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Nhóm giải pháp chung bao gồm hoàn thiện quy hoạch giao đất giao rừng lâu dài theo Quyết định 132/TTg; đổi mới chính sách tín dụng ưu đãi qua Hội Phụ nữ, Hội Nông dân; đào tạo nghề và nâng cao dân trí; tăng cường chuyển giao kỹ thuật khuyến nông; nâng cấp giao thông và mạng lưới liên lạc. Nhóm giải pháp cụ thể hướng dẫn các hộ có điều kiện đầu tư mô hình kinh tế trang trại khép kín cây trồng - vật nuôi.

Phần 5: Kết luận và khuyến nghị

Tổng kết các phát hiện then chốt về sự phụ thuộc sinh kế vào nông nghiệp của xã Vĩnh Kiên, mức độ dễ bị tổn thương của nhóm hộ nghèo thiếu đất và thiếu vốn, đồng thời kiến nghị các cấp chính quyền triển khai đồng bộ hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ sản xuất.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ số liệu thực tế

  • Khóa luận xác lập bức tranh định lượng chi tiết về cơ cấu sinh kế tại xã Vĩnh Kiên: 100% hộ nghèo và cận nghèo phụ thuộc gần như tuyệt đối vào sản xuất nông nghiệp (nguồn thu từ nông nghiệp chiếm lần lượt 93,5% và 91,3%), trong khi thu nhập phi nông nghiệp chỉ đóng góp thứ yếu (5,0% ở nhóm nghèo và 8,3% ở nhóm cận nghèo).
  • Xác định được lúa và sắn là hai cây trồng sinh kế chủ lực, bảo đảm an ninh lương thực và nguồn thu tiền mặt tại chỗ (100% hộ trồng lúa, 80% hộ trồng sắn).
  • Chỉ ra mối liên kết sản xuất - chế biến - chăn nuôi đặc thù: Sự tồn tại của 10 nhà máy chế biến tinh bột sắn ướt tại địa phương cung cấp nguồn phụ phẩm bã sắn giá rẻ (qua mạng lưới 7 thương nhân trung gian), tạo điều kiện cho 50% số hộ phát triển chăn nuôi lợn với tỷ trọng đóng góp thu nhập đạt 56,5% trong nhóm hộ nuôi.
  • Phản ánh thực trạng bất bình đẳng về tư liệu sản xuất: Nhóm hộ nghèo có diện tích đất canh tác (0,14 ha/hộ) và đất rừng (0,79 ha/hộ) thấp hơn mức bình quân, buộc phải đi thuê mướn thêm 0,07 ha đất để đảm bảo nhu cầu lương thực hàng ngày.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

  • Về đất đai: Đẩy mạnh giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài; áp dụng linh hoạt Quyết định 132/TTg ngày 10/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, khắc phục tình trạng phân tán, manh mún.
  • Về vốn và tín dụng: Phân loại cơ chế vay vốn; ưu tiên cho hộ nghèo và cận nghèo vay vốn ưu đãi thông qua bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân), kết hợp hướng dẫn định mức và phương án sử dụng vốn hiệu quả.
  • Về khoa học kỹ thuật và khuyến nông: Tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp, xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hướng dẫn trồng xen canh cây họ đậu (cây lạc) để cải tạo đất bạc màu, hỗ trợ kiểm soát dịch bệnh và thú y cho đàn gia súc, gia cầm.
  • Về hạ tầng: Tiếp tục huy động phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để kiên cố hóa đường giao thông liên thôn, nội thôn và mở rộng hạ tầng thông tin liên lạc.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn do tác giả tự nêu

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cập nhật năm 2014 về hiện trạng tài sản sinh kế, phân hóa thu nhập và sử dụng đất đai của 4 thôn đại diện tại xã Vĩnh Kiên.
  • Ứng dụng khung phân tích sinh kế bền vững để giải thích hành vi kinh tế của nông hộ vùng trung du miền núi, phục vụ công tác xây dựng kế hoạch khuyến nông và chương trình mục tiêu giảm nghèo tại huyện Yên Bình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Dung lượng mẫu khảo sát dừng lại ở quy mô nhỏ (40 hộ điều tra trên địa bàn 4/9 thôn của xã), chưa bao quát toàn bộ địa bàn xã Vĩnh Kiên. Thời gian khảo sát sơ cấp tập trung ngắn hạn trong tháng 3/2014. Việc phân tích số liệu tài chính chủ yếu dựa trên tỷ trọng phần trăm cơ cấu thu nhập do hộ gia đình tự kê khai, chưa bóc tách hạch toán chi tiết bảng cân đối thu - chi tuyệt đối hay định lượng các chỉ số biên lợi nhuận ròng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ các thôn còn lại của xã; đi sâu đánh giá định lượng tác động môi trường và rủi ro ô nhiễm nguồn nước sông Chảy từ nước thải của các xưởng chế biến tinh bột sắn ướt; nghiên cứu chuỗi giá trị tinh bột sắn từ khâu sản xuất củ tươi đến kênh phân phối công nghiệp tại Hà Nội và Phú Thọ.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Khuyến nông, Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp: Tham khảo cách thức áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững (DFID/IFAD), cấu trúc thiết kế bảng hỏi điều tra nông hộ và phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát thực địa.
  • Cán bộ quản lý kinh tế - xã hội, cán bộ khuyến nông cấp cơ sở tại Yên Bái: Cung cấp số liệu cụ thể về mô hình tận dụng bã sắn chế biến làm thức ăn chăn nuôi gia súc, cũng như các rào cản về vốn và đất đai của hộ nghèo để xây dựng chính sách can thiệp phù hợp.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê tại Phần 4 (từ Bảng 4.5 đến Bảng 4.18) phản ánh chi tiết tương quan giữa các nhóm hộ (nghèo, cận nghèo, hộ khác) với cơ cấu sở hữu đất đai và tỷ trọng thu nhập từ từng loại cây trồng, vật nuôi.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu hộ và tại những thôn nào của xã Vĩnh Kiên?
Nghiên cứu khảo sát ngẫu nhiên tổng cộng 40 hộ gia đình, phân bổ đều 10 hộ/thôn tại 4 thôn: Khuân Đát, Đồng Tha, Đồng Tâm và Khe Tam.

2. Tỷ trọng đóng góp của thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp ở các nhóm hộ điều tra chênh lệch ra sao?
Thu nhập nông nghiệp chiếm 93,5% ở nhóm hộ nghèo, 91,3% ở nhóm cận nghèo và 66,3% ở nhóm hộ khác. Ngược lại, thu nhập phi nông nghiệp ở hộ nghèo chỉ đạt 5,00%, hộ cận nghèo đạt 8,30%, trong khi ở nhóm hộ khác đạt 37,1%.

3. Cơ cấu quy mô các xưởng chế biến tinh bột sắn ướt tại xã Vĩnh Kiên hoạt động như thế nào?
Toàn xã có 10 nhà máy chế biến thuộc 8 chủ sở hữu (6 quy mô vừa, 4 quy mô nhỏ), công suất bình quân 16,5 tấn củ tươi/ngày (dao động từ 5 - 30 tấn/ngày). Hoạt động chế biến diễn ra trong 3 - 4 tháng (tháng 11 đến tháng 2), tỷ lệ chuyển đổi củ tươi sang tinh bột ướt đạt 42 - 45%. Bã sắn phụ phẩm được 7 thương nhân thu mua tại xưởng với giá 280.000 đồng/tấn và cung ứng cho hộ chăn nuôi với giá 300.000 đồng/tấn.

4. Những cây trồng và vật nuôi nào chiếm tỷ trọng thu nhập cao nhất trong các hộ khảo sát?
Về trồng trọt, cây lâm nghiệp (keo, mỡ) đem lại tỷ trọng thu nhập cao nhất cho các hộ tham gia (56,2%), tiếp theo là lúa (46,1%) và sắn (32,5%). Về chăn nuôi, lợn đem lại tỷ trọng thu nhập cao nhất (56,5%), tiếp đến là nuôi cá (55,0%) và nuôi gà (52,2%).

5. Khóa luận chỉ ra thực trạng thiếu hụt đất canh tác ở nhóm hộ nghèo như thế nào?
Hộ nghèo sở hữu diện tích đất canh tác bình quân thấp nhất (0,14 ha/hộ) và đất rừng thấp nhất (0,79 ha/hộ). Để duy trì an ninh lương thực và sản xuất, nhóm hộ nghèo phải đi thuê mướn thêm bình quân 0,07 ha đất canh tác/năm.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Ngọc Anh đã hệ thống hóa và phân tích thực trạng sinh kế của nông hộ tại xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái thông qua số liệu điều tra thực tế tại 4 thôn đại diện. Kết quả nghiên cứu làm rõ mức độ phụ thuộc lớn của người dân vào hoạt động sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cây lúa, cây sắn và chăn nuôi lợn, gà), đồng thời chỉ ra sự hạn chế về đất đai, vốn tín dụng và kỹ thuật của nhóm hộ nghèo, cận nghèo. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với hoàn thiện chính sách đất đai, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề và dịch vụ khuyến nông nhằm cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương.