Mở đầu PHẦN 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn. PHẦN 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. PHẦN 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. PHẦN 5: Một số giải pháp và phương hướng chủ yếu nhằn phát triển kinh tế nông hộ tại địa bàn xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
Kết luận - Kiến nghị e 6 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Cơ sở lý luận về kinh tế nông hộ 2. Một số khái niện về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 2. Khái niện hộ Hộ đã có lâu đời cho đên nay nó vẫn tồn tại và phát triển.
Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội” [1]. * Có nhiều khái niên về hộ : Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “ Hộ là tất cả những người cùng sông chung trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công” Theo liên hợp quốc: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. Năm 1981, Harris (Lon don - Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng: “Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái “Hệ thống thế giới” (Mỹ) Là simth (1985 - Martin và Beitell (19985)) có bổ xung thêm: “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung”. Raul Ituna - Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Lioobon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nươc Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân của họ và cộng đồng” [12].
Đây chỉ là nêu những khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, khía cạnh nay hay khía cạnh khác hoặc khái quát chung nhưng vẫn còn chỗ dựa đồng nhất. Từ các khái niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau: e 7 - Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thông, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng huyết thống (Con nuôi, ngươi tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài…) - Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là là một đơn vị kinh tế (Ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại đôc lập với nhau…) 2. Hộ nông dân Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [8]. Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” [5].
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [3] Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật ,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp” [2] Nghiên cứu khái niện trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá nhân tôi cho rằng: Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn có nghành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập chủ yếu là nghề nông, ngoài ra họ có tham gia các hoạt động phi nông nghiệp như (dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp…) Một số khái niệm về kinh tế hộ nông dân. Kinh tế hộ nông dân “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn.của gia đình mình là chính” [1]. Tóm lại, có thể thấy kinh tế hộ nông dân là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp. Nó hình thành phát triển một cách khác quan, lâu dài dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội 2.
Khái niện về phát triển Trong những thuật ngữ khoa học “phát triển” được biểu thị như tiến trình đưa xã hộ lên một trình độ cao hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Quá trình phát triển của xã hội bao gồm cả phát triển kinh tế văn hóa xã hội và chính trị. Như vậy có thể định nghĩa về phát triển “Phát triển là một quá trình thay đổi làm tăng cường mức sống của con người”. Vai trò, sự cần thiết phát triển kinh tế hộ nông dân.
Kinh tế hộ là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền sản xuất hàng hoá, vì vậy nó có vai trò hết sức to lớn trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội. Kinh tế hộ là tế bào quan trọng để phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện sự phân công lao động của xã hội. Kinh tế hộ có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, bảo vệ và phát triển môi trường, xây dựng và phát triển nông thôn mới. Phát triển kinh tế hộ nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm.
Kinh tế hộ cũng sẽ đi đầu trong việc thâm canh tăng năng suất, ứng dụng công nghệ mới, sử dụng giống mới, sử dụng phân bón thuốc hoá học một cách hợp lý, yêu cầu nhiều hơn đối với dịch vụ và đầu vào. Kinh tế hộ nông dân góp phần tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Như vậy, phát triển kinh tế hộ góp phần bảo vệ môi trường, thúc đẩy quá trình chuyển dịch lao động, cơ giới hóa NN, kích thích các ngành CN chế biến, CN e 9 cung cấp đầu vào cho NN và các ngành dịch vụ nông nghiệp phát triển do đó thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông thôn Việt Nam. Các đặc trưng của kinh tế hộ Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất nhỏ nhưng lại rất hiệu quả, dù quy mô nhỏ nhưng vẫn áp có thể dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động.
+ Kinh tế nông hộ quy mô nhỏ không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp. + Kinh tế nông hộ có khả năng SX cao, đó là biểu hiện của SX lớn. Kinh tế hộ sử dụng lao động và tiền vốn của chủ hộ là chủ yếu. + Kinh tế nông hộ dựa vào nguồn lực của gia đình để tạo ra thu nhập phục vụ cho cuộc sống gia đình họ.
+ Hộ không thuê lao động hoặc thuê lao động ngoài không đáng kể, vốn sản xuất chủ yếu do hộ tự tích lũy. Nếu có vay thì chỉ vay với lượng nhỏ để kịp thời vụ. Trong kinh tế hộ nông dân có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. + Sở hữu trong hộ nông dân là sở hữu chung.
+ Các thành viên trong nông hộ đều quen với việc sử dụng những tư liệu sản xuất và tài sản, họ hiểu rõ đặc tính của từng loại tài sản. + Trong nông hộ chủ hộ vừa là người điều hành vừa là người trực tiếp tham gia lao động sản xuất. + Trong hộ mọi người gắn bó chặt chẽ với nhau. + Trong nông hộ, lao động có tính chất rất cao, mọi người làm việc với tư cách người chủ giúp đỡ lẫn nhau, phù hợp với diều kiện từng người.
Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. + Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp nông nghiệp khác. + Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, chúng phát triển theo những quy luật sinh học nhất định. e 10 + Trong NN, đất đai là tư liệu đặc biệt chủ yếu, có giới hạn về diện tích, có vị trí cố định và chất lượng không đều, điều đó đòi hỏi người sản xuất phải biết bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp, khai thác, sử dụng hợp lý đất đai.
Kinh tế hộ có sự gắn kết chặt chẽ giữa kết quả SX và lợi ích người LĐ. + Trong kinh tế hộ, mọi người gắn kết với nhau trên cả cơ sở kinh tế lẫn huyết tộc và có chung ngân quỹ nên dễ dàng có sự nhất trí đồng tâm chặt chẽ cùng nhau phát triển. + Trong nông hộ, mọi người có quyền tham gia phân phối kết quả sản xuất mà không phụ thuộc vào mức độ đóng góp vào sản xuất 2. Phân loại hộ nông dân 2.
Phân loại căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm 2 loại: - Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường. Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình. - Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu. Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động.