Chương 1: Sản phẩm dịch vụ đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Sự cần thiết phải xây dựng sản phẩm dịch vụ đặc thù Sản phẩm – dịch vụ là yếu tố quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của công ty. Do liên tục phải đối mặt với thị trường cạnh tranh gay gắt, với nhu cầu thường xuyên thay đổi của khách hàng và với những tiến bộ về mặt kỹ thuật công nghệ nên một công ty phải có chiến lược tung ra nhiều sản phẩm khác nhau cũng như cải tiến sản phẩm hiện tại để ổn định doanh thu. Phát triển nhiều sản phẩm khác nhau để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu chưa được thỏa mãn của khách hàng, nói rộng hơn, giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội từ môi trường kinh doanh.
Và bên cạnh đó, đổi mới sản phẩm giúp doanh nghiệp tạo dựng sự khác biệt với đối thủ và phát huy lợi thế cạnh tranh của mình. Tất nhiên, việc tạo ra sản phẩm hay đổi mới sản phẩm không thể nằm ngoài mục đích gia tăng lợi nhuận hoặc cắt giảm chi phí. Một thực tế khách quan hiện nay là các doanh nghiệp phải đương đầu với điều kiện kinh doanh ngày càng trở nên khắt khe hơn: nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao, khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển ngày càng mạnh thì chu kỳ sống của sản phẩm sẽ có xu hướng ngày càng ngắn đi. Cụ thể là: Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm nảy sinh thêm những nhu cầu mới, như dịch vụ internet banking, sms banking,… của ngân hàng; Sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của khách hàng với các loại sản phẩm khác nhau; Khả năng thay thế của các sản phẩm; Tình trạng cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, sản phẩm mới ra đời nhanh chóng bị sao chép và bão hòa.
Việc phát triển sản phẩm mới rất rủi ro và tốn kém nhưng đó là điều cần thiết để bù đắp tổn thất doanh thu từ các sản phẩm hiện hữu trong suốt giai đoạn suy tàn của một vòng đời sản phẩm. Các công ty có thể trì hoãn những tổn thất này bằng cách liên tục cải thiện sản phẩm họ đang cung cấp cho khách hàng. Mặc dù vậy, việc SVTH: Phạm Hoàng Bảo Khuyên Trang 11 Chương 1: Sản phẩm dịch vụ đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM phát triển và tung nhiều sản phẩm ra thị trường vốn tốn nhiều công sức nhưng không phải sản phẩm nào cũng có khả năng bám trụ được. Các tiêu chí xây dựng sản phẩm dịch vụ đặc thù Tạo đƣợc tính độc đáo của sản phẩm dịch vụ Tính độc đáo phải mang lại lợi thế của sự khác biệt trong thực tế hoặc trong nhận thức của khách hàng, sao cho mỗi khi nhắc đến tên sản phẩm, khách hàng lập tức liên tưởng đến một thuộc tính của sản phẩm.
Sự liên tưởng này phải rõ ràng, nhất quán và trường tồn. Quan trọng hơn, thuộc tính mà khách hàng liên tưởng đến phải thực sự độc đáo, đem lại lợi ích khác biệt hoặc vượt trội so với sản phẩm cùng loại khác. Sự độc đáo tạo ra lợi thế cạnh tranh có thể nằm trong bản thân sản phẩm, các dịch vụ kèm theo, kênh phân phối, con người, hình ảnh. Sản phẩm có thể khác biệt về mặt đặc tính (features), hiệu năng (performance), thiết kế (design), phong cách (style), chất lượng (quality).
Dịch vụ có thể khác biệt ở sự linh hoạt, tận tâm, thuận lợi về thời gian (24/24 giờ), không gian (giao hàng, lắp đặt tận nơi), mức độ chuyên nghiệp. Kênh phân phối có thể khác biệt ở cách thức, địa điểm, phương tiện phân phối, tính chất, mức độ chuyên nghiệp của nhà phân phối. Con người có thể khác biệt ở đội ngũ nhân viên hoặc đại lý chuyên nghiệp, có thái độ ân cần, thân thiện, phong cách ăn mặc lịch sự, hiểu biết chuyên sâu về sản phẩm/dịch vụ. Hình ảnh có thể khác biệt ở màu sắc, biểu tượng, cách thức truyền thông.
Làm rõ tầm quan trọng của sự khác biệt đối với khách hàng Nếu chỉ tạo ra sự khác biệt sản phẩm không thôi thì vẫn chưa đủ để tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngân hàng. Điều quan trọng là sự khác biệt đó phải có tầm quan trọng đối với khách hàng, có giá trị thực tế đối với họ và được họ coi trọng thực sự. Một cách tạo sự khác biệt sản phẩm là nghiên cứu thị trường để hiểu được khách hàng và để trắc nghiệm một cách hệ thống những ý tưởng và giả thiết. Việc nghiên SVTH: Phạm Hoàng Bảo Khuyên Trang 12 Chương 1: Sản phẩm dịch vụ đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM cứu thị trường còn có vai trò đảm bảo rằng giá trị cộng thêm xứng đáng với cái giá cao hơn giá của những sản phẩm cạnh tranh.
Giá trị cộng thêm đó phải được khách hàng thấy được. Thông tin phải đến được khách hàng, thông tin phải dễ nhớ và có thể tin được. Tạo khả năng duy trì lợi thế về sự khác biệt của ngân hàng Điểm khác biệt phải được dài lâu, nghĩa là khó sao chép. Sự khác biệt phải được ngân hàng tiếp tục duy trì, đồng thời phải có hệ thống biện pháp để chống lại sự sao chép của đối thủ cạnh tranh.
Nếu điểm khác biệt xuất phát từ một nỗ lực toàn diện của tổ chức cùng với tài sản và năng lực của nó thì để sao chép được không phải là dễ và rất tốn kém, nhất là khi điểm khác biệt đó có tính chất năng động, không ngừng biến hoá. Vai trò của sản phẩm dịch vụ đặc thù Phục vụ khách hàng là nữ giới Các sản phẩm đặc thù của Chi nhánh 8 Tháng 3 xuất phát từ ý định chăm sóc cho khách hàng là nữ giới, thể hiện sự quan tâm và am hiểu của ngân hàng đối với những vị khách tiềm năng của ngân hàng. Khách hàng nữ giới có những đặc điểm hoàn toàn khác so với khách hàng nam giới, họ có những mối quan tâm về công việc, bản thân và những nhu cầu đặc biệt mà những sản phẩm đại trà khác chưa khai thác hết. Các hoạt động giải trí thường xuyên của nữ giới là xem TV (50%) và đi mua sắm (34%).
Nữ giới chi nhiều hơn cho áo quần và các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp và chi ít hơn cho hẹn hò, liên lạc và đi lại. Vai trò quyết định khi mua sắm: 54% nữ giới giữ vai trò quyết định chính trong ngành hàng thực phẩm và 53% quyết định chính trong mặt hàng đồ dùng thiết yếu. Chợ và cửa hàng tạp hóa là nơi phổ biến nhất để mua các đồ dùng thiết yếu (bao gồm sản phẩm chăm sóc cá nhân, sản phẩm vệ sinh…). Siêu thị cũng là một kênh mua sắm quan trọng: các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp chủ yếu ở các cửa hàng quần SVTH: Phạm Hoàng Bảo Khuyên Trang 13 Chương 1: Sản phẩm dịch vụ đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM áo/mỹ phẩm và các siêu thị.
Bên cạnh đó, 15% là mua hàng ở chợ và 11% ở các trung tâm thương mại. Truyền miệng đóng vai trò quan trọng nhất trong thói quen mua sắm nhưng nữ giới có xu hướng nghe theo sự góp ý của bạn bè và người thân. Khi được người thân hoặc bạn bè trực tiếp giới thiệu họ có thể quyết định mua sản phẩm dễ dàng hơn khi xem quảng cáo trên truyền hình hoặc các nguồn thông tin khác. Đối với nhân viên bán hàng, nữ giới đề cao yếu tố thân thiện, nhã nhặn.
[9] Phục vụ ngân hàng Khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, trong lúc nhiều công ty đang phải đấu tranh giành giật khách hàng thì áp dụng chiến thuật nhanh chóng cải tiến các sản phẩm và gửi các thông điệp quảng bá tới đối tượng khách hàng là phụ nữ cũng là một nỗ lực thúc đẩy doanh số bán hàng của các công ty. Không chỉ có sức mua lớn, phụ nữ còn là những khách hàng đáng giá bởi ba lý do: Thứ nhất: Phụ nữ là những khách hàng trung thành. Marti Barletta, tác giả của cuốn sách “Marketing to Women”, nói: phụ nữ có xu hướng luôn luôn mua hàng của một hãng nếu họ thích nhãn hiệu đó. Thứ hai: Khả năng truyền bá thông tin về sản phẩm của phụ nữ cao hơn đàn ông thông qua các giao tiếp xã hội và trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp.
Thứ ba: Phần lớn những ngành bị cắt giảm nhân công hiện nay có lao động chủ yếu là nam giới, như ngành sản xuất và xây dựng. Điều này có nghĩa là vào thời điểm hiện tại, phụ nữ góp nhiều hơn trong thu nhập của gia đình và do đó, sẽ có sức mua lớn hơn. [10] Phục vụ xã hội Tại hầu hết các quốc gia có một thực tế là phụ nữ luôn bị phân biệt đối xử về lương. Tại Việt Nam, Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) đã công bố khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ, theo đó, lương của công nhân nữ luôn thấp hơn các đồng nghiệp nam 20% - 30%, lao động nữ dù là số đông, nhưng thường ở vị trí công việc kém hơn nên tiền lương trung bình thấp hơn, “Việt Nam là SVTH: Phạm Hoàng Bảo Khuyên Trang 14 Chương 1: Sản phẩm dịch vụ đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM một trong số ít các quốc gia có khoảng cách về giới ngày càng tăng, ngược với xu hướng giảm tại hầu hết các nước khác”.
Các chuyên gia ILO chỉ ra rằng, chênh lệch về thu nhập theo giới khiến phụ nữ gặp nhiều thiệt thòi, trong đó tác động tiêu cực đến tất cả các cơ hội học tập, đào tạo và thăng tiến trong suốt cuộc đời người lao động, bao gồm cả tuổi nghỉ hưu. Về hưu trước nam năm năm cũng đồng nghĩa việc lương hưu của lao động nữ thấp hơn so với lương hưu của lao động nam khoảng hai bậc. Tuy nhiên, trong mắt những nhà kinh doanh nhạy bén, phụ nữ là một thế lực kinh tế đang nổi lên mạnh mẽ. Ai cũng biết phụ nữ nắm giữ tiền bạc và đưa ra các quyết định mua hàng cấp gia đình.
Hiện nay, phụ nữ còn là nguồn thu nhập đồng thời tác động lớn tới toàn bộ nền kinh tế thế giới. Số phụ nữ tốt nghiệp đại học hay mới lấy bằng cấp cao hơn gấp rưỡi đàn ông. Khi thế hệ “baby boomer”2 thời hậu chiến vào đại học, tỷ lệ trên vẫn giống hệt thế nhưng nghiêng về phía đàn ông.