ĐẶT VẤN ĐỀ Dưa chuột (Cucumis sativus) là cây rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm và có năng suất cao so với các loại rau ăn quả khác. Sản phẩm dưa chuột ngoài ăn tươi như một loại rau xanh, trong những năm gần đây, dưa chuột còn được chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Dưa chuột là loại rau ăn quả được trồng phổ biến trên khắp cả nước, bên cạnh các giống dưa chuột được nhập nội các giống dưa chuột địa phương vẫn được người dân lưu giữ do có những ưu điểm vượt trội so với các giống dưa chuột nhập nội như: khả năng sinh trưởng khỏe, chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận tốt và đặc biệt là chất lượng cao hơn rất nhiều so với giống nhập nội. Hiện nay, ở nước ta có một số giống dưa chuột địa phương ngày càng được quan tâm, phát triển, một số giống dưa chuột nổi tiếng gắn với từng vùng sinh thái như: giống dưa chuột Phú Thịnh ở Hưng Yên, dưa chuột Tam Dương ở Vĩnh Phúc, dưa mèo ở Sơn La.
Dưa chuột Kỳ Sơn cũng là một trong các giống dưa chuột địa phương có giá trị cao ở huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Giống dưa này được nông dân gieo trồng và giữ giống từ rất lâu đời. Đặc điểm nổi bật của giống dưa này là quả nhỏ, vỏ xanh đậm, mềm và có nhiều gai, thịt quả rất dày, ruột nhỏ và ít hạt, khi ăn giòn có vị ngọt mát, không chát. Bên cạnh đó, giống bản địa này thích nghi rất tốt với điều kiện thổ nhưỡng cũng như khí hậu của địa phương và có khả năng chống chịu sâu, bệnh và điều kiện bất thuận tốt.
Chính vì vậy, giống dưa chuột này ngày càng được mở rộng diện tích sản xuất và trở thành cây trồng chủ lực trong sản xuất vụ đông của địa phương. Tuy nhiên, do được trồng từ rất lâu đời với phương pháp để giống truyền thống của người nông dân nên giống dưa chuột ở địa phương đã có một số biểu hiện về thoái hóa giống như: độ đồng đều của quả giảm đáng kể, màu sắc thay đổi, chất lượng giảm, năng suất không ổn định. Để khắc phục hiện tượng trên, phục tráng giống dưa chuột nhằm chọn ra được mẫu giống đúng với giống gốc, góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế cho việc sản xuất dưa chuột bản địa tại địa phương. Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Thu thập, đánh giá và phục tráng giống dưa chuột địa phương tại Thủy Nguyên, Hải Phòng” là rất cần thiết.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích Xây dựng bản mô tả giống gốc giống dưa chuột địa phương tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Thu thập được một số mẫu giống đại diện của giống dưa chuột địa phương tại Thủy Nguyên-Hải Phòng để đánh giá đặc tính nông sinh học và làm cơ sở phục vụ cho công tác phục tráng giống.
Yêu cầu - Điều tra thực trạng sử dụng, sản xuất giống dưa chuột để xây dựng bản mô tả giống dưa chuột địa phương tại Thủy Nguyên - Hải Phòng. - Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số mẫu giống dưa chuột địa phương tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. - Chọn lọc mẫu giống có các đặc điểm tương tự giống gốc phục vụ công tác phục tráng giống. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài Cung cấp dữ liệu về các đặc điểm hình thái, một số đặc tính nông sinh học của giống dưa chuột bản địa phục vụ cho quá trình nghiên cứu phục tráng giống. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm đa dạng nguồn vật liệu phục vụ công tác chọn tạo giống dưa chuột. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Góp phần bảo tồn và phát triển giống dưa chuột bản địa tại địa phương, làm tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu giống dưa chuột địa phương Thuỷ Nguyên, đánh giá các mẫu giống gần nhất với giống gốc.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI CÂY DƯA CHUỘT 2. Nguồn gốc và phân bố Dưa chuột (Cucumis sativus L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là một trong những loài rau được trồng nhiều nhất trên thế giới, xếp thứ tư sau khoai tây, hành và cải bắp (Jianbin et al., 2010; Ngô Thị Hạnh và cs.Được biết đến cách đây khoảng 5000 năm (Nahit, 2004), song hiện chưa có tài liệu nào xác minh chính xác về nguồn gốc của cây dưa chuột.
Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất với quan điểm do De Candolle đưa ra năm 1912 rằng dưa chuột có nguồn gốc từ Tây Bắc Ấn Độ, nơi tồn tại các loài họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm sắc thể 2n = 14. Các tác giả đã chứng minh sự tồn tại hơn 2000 năm của dưa chuột ở vùng này và cho rằng từ đây chúng lan dần sang phía Tây và xuống phía Đông (Nahit Cagirici, 2004). Cũng có ý kiến cho rằng dưa chuột có nguồn gốc tại Nam Á và được trồng trọt từ rất lâu, khoảng 3000 năm (Irem, 2009).Từ những nơi này dưa chuột được đưa đến các vùng như Tây châu Á, các nước Bắc Phi và Nam Âu (Latha, 2012). Jianbin et al.
2010 cho rằng Trung Quốc là trung tâm khởi nguyên thứ hai của cây dưa chuột. Các giống dưa chuột địa phương của Trung Quốc có nhiều tính trạng lặn như quả dài, hình thành quả không cần qua thụ phấn (dạng parthenocarpy), quả không chứa chất gây đắng (cucurbitaxin), gai quả màu trắng. Năm 1976 nhà chọn giống Xô Viết Tkachenco đã nêu giả định rằng Việt Nam có thể là trung tâm khởi nguyên của loài cây này. Qua nghiên cứu nhiều năm tập đoàn giống dưa chuột địa phương thu thập từ nhiều vùng khác nhau của Việt Nam và qua khảo sát tại chỗ, Taracanov (1975) cũng đồng ý với ý kiến của Tkachenco về nguồn gốc của cây dưa chuột ở Việt Nam.
Hiện nay, dưa chuột được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới, từ vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi tới tận 63 vĩ độ Bắc và đã trở thành một trong những hàng nông sản có giá trị cao trên thị trường thế giới (Wang et al., 2007; Maryam Golabadi et al. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại Dưa chuột thuộc họ bầu bí Cucurbitaceae, chi Cucumis, loài C., có bộ nhiễm sắc thể 2n = 14 (Irem, 2009). Do trong quá trình tồn tại và phát triển, từ một dạng ban đầu, dưới tác dụng của điều kiện sinh thái khác nhau và các đột biến tự nhiên, dưa chuột đã phân hóa thành nhiều kiểu sinh học (biotype).
Việc phân loại chúng theo đặc tính sinh thái và di truyền học giúp cho công tác nghiên cứu giống sử dụng đúng đắn và dễ dàng các đối tượng nghiên cứu. Các nhà phân loại đã cố gắng nhiều trong lĩnh vực này, tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một bảng phân loại thống nhất. Theo bảng phân loại của Gabaev (1932; Trần Khắc Thi, 1985), loài C. sativus được chia thành 3 loài phụ: 1.
Loài phụ Đông Á - ssp -Righi dus Gab; 2. Loài phụ Tây Á - ssp -Graciolos Gab; 3. Dưa chuột hoang dại - ssp -Agrotis Gab, Var. Theo đặc điểm quả giống và vùng phân bố, các loài phụ trên được chia thành 14 thứ.
Loài phụ Đông Á có 8 thứ, loài phụ Tây Á có 5 thứ và dưa chuột hoang dại hardwikii. Ngoài ra, nhà chọn giống dưa chuột Liên Xô, tiến sỹ Tkachenco (1967) đã phân loài C.sativus thành 3 thứ: dưa chuột thường, dưa chuột lưỡng tính và dưa chuột hoang dại (Tạ Thu Cúc, 2007). Nhà di truyền học Ba Lan Kubicki (1969) chia C.sativus thành 3 thứ (Nguyễn Văn Hiển, 2000): 1. Vulgaris- dưa chuột trồng, gồm 2 nhóm sinh thái địa lý: Đông và Tây Á; 2.
hermafroitus – dưa chuột lưỡng tính; 3. hardwickii – dưa chuột hoang dại từ Nêpan. Bảng phân loại này mặc dù chỉ dựa trên quan điểm hình thái thực vật nhưng tương đối thuận lợi khi sử dụng trong công tác nghiên cứu giống. Theo Tatlioglu (1993), chi Cucumis nằm ở 2 vùng địa lý khác nhau: 1.
Nhóm Châu Phi: chiếm phần lớn các loài, phổ biến ở châu Phi, Trung Đông đến Pakistan và Nam Ả Rập; 2. Nhóm Châu Á: được tìm thấy ở các vùng phía Đông và Nam dãy Hymalaya. Các giống dưa chuột Việt Nam thuộc nhóm này. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về các giống dưa chuột Việt Nam, Viện cây lương thực và thực phẩm (Trần Khắc Thi và Vũ Tuyên Hoàng, 1979) đã phân các giống hiện có thành 2 kiểu sinh thái (ecotype): miền núi và đồng bằng.
Trong đó, kiểu sinh thái miền núi có nhiều đặc tính hoang dại và thích ứng với môi trường cao (chịu lạnh, chống bệnh phấn trắng, phản ứng chặt với độ dài ngày…). Kiểu sinh thái đồng bằng có thể là sản phẩm tiến hoá của dưa chuột miền núi do đột biến và tác động của con người trong quá trình canh tác và chọn lọc. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY DƯA CHUỘT Cây dưa chuột là cây hàng năm, thân thảo, thân leo hay bò, có phủ một lớp lông dày, gây ngứa và làm rát da. Hệ thống rễ Dưa chuột có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm nên rễ dưa chuột yếu hơn so với các cây khác trong họ bầu bí.
Hệ rễ ưa ẩm, không chịu khô hạn hay ngập úng. Rễ dưa chuột dài 10 - 15cm. Khối lượng rễ xấp xỉ 1,5% trọng lượng toàn bộ cây, phân bố rộng khoảng 60 - 90cm. Đối với các cây lai F1, ở tất cả các pha sinh trưởng, bộ rễ phát triển mạnh và có khối lượng lớn hơn bố mẹ.
Hệ rễ có thể ăn sâu dưới tầng đất 1m, rễ nhánh, rễ phụ phát triển tùy điều kiện đất đai. Hệ rễ phân bố ở tầng đất 0 - 30cm nhưng hầu hết tập trung ở tầng đất 15 - 20cm.Sau mọc 5 - 6 ngày, rễ phát triển mạnh. Thời kỳ cây con rễ sinh trưởng yếu. Khi cây trưởng thành, hệ thống rễ ăn rộng 18 - 21cm, rễ bất định sẽ mọc ra từ vùng điểm của thân leo.
Cây có bộ rễ lớn thường phổ biến ở các giống chín muộn, có khối lượng thân lá lớn, mặt khác, đối với các giống lai chín sớm ở hầu hết các pha sinh trưởng bộ rễ đều lớn hơn mẹ. Như vậy giữa giống lai và giống không lai có thể phân biệt ngay ở những ngày đầu tiên sau khi hạt nảy mầm, và bộ rễ của cây lai được coi như một trong những chỉ tiêu năng suất cao của giống.