CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm, đặc điểm của khu công nghiệp 1. Khái niệm khu công nghiệp Căn cứ theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ thì: khu công nghiệp (KCN) là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác.
Tại Việt Nam cũng đã có nhiều loại hình khu công nghiệp đang được xây dựng, bao gồm: khu công nghiệp; khu chế xuất; khu công nghệ sinh học; khu công nghiệp sinh thái; khu kinh tế mở hay khu kinh tế thương mại khác. Đặc điểm của khu công nghiệp Khu công nghiệp có các đặc điểm chủ yếu như sau: - Có ranh giới vị trí được xác định, có thể có hoặc không có rào ngăn cách, không có dân cư sinh sống. - Được thành lập để thu hút tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp. - Có khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động.
- Đơn vị chủ đầu tư KCN thuê đất của Nhà nước để đầu tư hạ tầng và thu tiền cho thuê đất, phí điều hành KCN và một số loại phí có liên quan khác. Sự hình thành khu công nghiệp ở Việt Nam Ban đầu, các KCN hình thành từ những năm 1960 và 1970 theo mô hình công nghiệp của Liên Xô cũ, tập trung ở một số thành phố khu vực phía Bắc như: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Phú Thọ, và một số thành phố khác ở khu vực phía Nam. Trong giai đoạn này, các cơ sở sản xuất công nghiệp còn mang tính tự phát, phân tán rời rạc. Một số nhà máy, xí nghiệp tập hợp lại và cùng hoạt động trong một phạm vi địa lý nhất định cũng được gọi là “khu công nghiệp”.
Công nghệ sản xuất của các cơ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sở này còn lạc hậu, không có quy hoạch tổng thể và lâu dài, không quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường. Việc hình thành và phát triển các KCN này chưa có quy hoạch, còn bộc lộ nhiều nhược điểm về môi trường và công nghệ mà cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được. Về sau thì các KCN được xây dựng theo mô hình mới. Đây là những khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương.
Trong khu công nghiệp không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài khu công nghiệp phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở khu công nghiệp. Cho đến nay, cả nước hiện có tổng số trên 326 KCN. Tuy nhiên, quá trình quản lý, phát triển các khu công nghiệp vẫn còn bộc lộ một số khó khăn, thể hiện qua tỷ lệ lấp đầy bình quân mới chỉ đạt 60%, tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, việc thu hút đầu tư mới và phân khu nội bộ KCN cũng chưa thật sự hiệu quả, triệt để… 1. Tình hình phát triển các khu công nghiệp 1.
Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam Năm 2008 là năm đầu tiên thực hiện Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về việc thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý của nhà nước đối với KCN, KCX và KKT. Công tác quản lý của nhà nước cũng như hoạt động của các KCN, KKT ở Việt Nam đã có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, năng lực, chương trình và trọng tâm công tác để thích nghi với điều kiện mới. Vì vậy, trong năm 2008 nước ta đã có những bước phát triển mới mang tính đột phá và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sau 20 năm (1991 - 2011) xây dựng và phát triển, kể từ khi KCX đầu tiên - KCX Tân Thuận được hình thành tại TP.HCM đến nay hệ thống các KCN, KCX đã có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước và có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước.
Theo báo cáo của Vụ Quản lý khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết năm 2018, cả nước có 326 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên đạt gần 93 nghìn héc-ta. Trong đó diện tích đất công nghiệp đạt gần 64 nghìn héc-ta, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiếm khoảng 68% tổng diện tích đất tự nhiên. Có 250 KCN đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy đạt hơn 73% và 76 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ bản. Có 17 Khu kinh tế ven biển đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước hơn 845.
Tính chung trong năm 2018, tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp, khu kinh tế và vốn tăng thêm đạt trên 8,3 tỷ USD. Theo đó, các khu công nghiệp, khu kinh tế đã đăng ký đầu tư cho khoảng 560 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký ước đạt trên 5,3 tỷ USD và tăng vốn cho gần 500 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm khoảng trên 3 tỷ USD. Lũy kế đến hết năm 2018, các khu công nghiệp, khu kinh tế thu hút được khoảng 7.500 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký ước đạt gần 970 nghìn tỷ đồng và khoảng 8.000 dự án vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký ước đạt trên 145 tỷ USD. Tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động đạt trên 73%.
Tình hình phát triển các khu công nghiệp tại Quảng Ninh Những năm gần đây, Quảng Ninh đã đẩy mạnh đầu tư, phát triển các khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn, đồng thời có nhiều chính sách, cơ chế nhằm thu hút mạnh các doanh nghiệp đầu tư vào KKT, KCN. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 880/QĐ-TTg ngày 9/6/2014, trên địa bàn Quảng Ninh có 11 KCN (quy hoạch đến năm 2020) với tổng diện tích là 11. Thời gian qua, Quảng Ninh đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, quy trình thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư kinh doanh ngày càng đơn giản hóa, rõ ràng, công khai và minh bạch. Từ đó, nhiều nhà đầu tư có tiềm lực đã đến KCN, KKT của tỉnh với mong muốn đầu tư lâu dài.
Tỉnh Quảng Ninh cũng đã giao Ban Quản lý KKT là đơn vị đầu mối, tăng cường phối hợp, trao đổi chuyên môn với các bộ chuyên ngành (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường), đặc biệt trong việc xin chấp thuận chủ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trương đầu tư các dự án trọng điểm; đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù đối với KCN, KKT; hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng hạ tầng KKT. Bên cạnh đó, công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) cũng được đẩy mạnh. Cụ thể, Ban Quản lý KKT đã phân loại các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết thành 4 nhóm (TTHC thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ; TTHC thuộc thẩm quyền quyết định của UBND tỉnh; TTHC được UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và Sở LĐTB-XH ủy quyền; TTHC thuộc thẩm quyền quyết định của Ban Quản lý KKT). Để rút ngắn thời gian thực hiện TTHC của doanh nghiệp, đã có 21/21 TTHC thuộc thẩm quyền quyết định của Ban được thực hiện thẩm định và phê duyệt tại Trung tâm Hành chính công tỉnh, 47/47 TTHC đăng ký thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3.
Trong quý I/2018, Ban tiếp nhận 106 TTHC; đã giải quyết 97 TTHC (đạt 91,51%), trong đó giải quyết trước hạn 79 TTHC (đạt 81,44%), giải quyết đúng hạn 18 TTHC (đạt 18,56%), không có TTHC trả quá thời hạn; 9 TTHC chưa đến hạn trả. [13] Ban Quản lý KKT cũng đã bố trí cán bộ thường trực tại các địa bàn trọng điểm để nắm bắt, tổng hợp tình hình triển khai đầu tư hạ tầng kỹ thuật và các dự án thứ cấp trong KCN, KKT. Đồng thời, duy trì liên lạc thường xuyên với bộ phận thường trực của UBND các địa phương có KCN, KKT; phối hợp với đơn vị chuyên môn của các sở, ngành và các địa phương, hướng dẫn các nội dung chuẩn bị đầu tư xây dựng các dự án, tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, dự án hoạt động trên địa bàn KCN, KKT, cập nhật tình hình an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ,… Thường xuyên giám sát, ghi nhận, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự án để đề xuất xử lý theo quy định. Chủ động hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn quản lý trong việc thực hiện các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban.
Tổng vốn thu hút đầu tư trên địa bàn KCN, KKT đạt 936 tỷ đồng (gồm 40,874 triệu USD và 14 tỷ đồng) đạt 13,63% kế hoạch thu hút FDI năm 2018. Hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp trong các KKT, KCN khá ổn định, tốc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, nhiều doanh nghiệp đã mở rộng quy mô sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chỉ tính riêng năm 2017, doanh thu các dự án FDI đạt 1,4 tỷ USD, tổng giá trị xuất khẩu đạt 875 triệu USD, nộp Ngân sách Nhà nước đạt 1. Xây dựng một số khu vườn ươm công nghiệp công nghệ cao tiến tới phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao về cơ khí tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin.
Phát triển các Khu, cụm công nghiệp phù hợp với phát triển đô thị, giao thông. Xây dựng hạ tầng các Khu, cụm công nghiệp đồng bộ giữa trong và ngoài hàng rào, phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung gắn với phát triển các khu dịch vụ - đô thị phù hợp để đảm bảo điều kiện sinh hoạt ăn ở và đi lại cho công nhân. Các Khu, cụm công nghiệp đều phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung để giảm ô nhiễm môi trường.