Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km, nơi tập trung nhiều đô thị và dải đồng bằng ven biển đang chịu sức ép nặng nề từ biến đổi khí hậu. Tại tỉnh Quảng Bình với chiều dài bờ biển 116,04 km, nguồn nước dưới đất giữ vai trò huyết mạch đối với sinh hoạt và phát triển kinh tế. Trong đó, hồ Bàu Tró với diện tích mặt nước khoảng 24 ha (tương đương 0,494 km²) và dung tích trữ 3,6 triệu m³ là nguồn cấp nước ngọt tự nhiên chiến lược bậc nhất cho thành phố Đồng Hới. Tuy nhiên, hồ Bàu Tró chỉ nằm cách bờ biển Nhật Lệ từ 300 m đến 450 m và có mối liên hệ thủy lực trực tiếp với tầng chứa nước cát ven biển Holocen.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ nguy cơ xâm nhập mặn nghiêm trọng do tác động kép của hiện tượng nước biển dâng và áp lực khai thác nước ngầm. Lịch sử đã ghi nhận vào năm 1995, việc khai thác quá mức đã làm mực nước hồ hạ thấp hơn mực nước biển trên 2 m, dẫn đến tình trạng mặn hóa toàn diện và phá hủy hệ thống đường ống dẫn nước. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xây dựng mô hình số đánh giá định lượng và dự báo mức độ lan truyền mặn trong tầng chứa nước Holocen khu vực hồ Bàu Tró dưới các kịch bản nước biển dâng 50 cm, 75 cm và 100 cm, từ đó đề xuất các giải pháp công trình và quản lý nhằm kiểm soát rủi ro.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng cồn cát ven biển giữa biển Nhật Lệ và hồ Bàu Tró thuộc phường Hải Thành, thành phố Đồng Hới với tổng diện tích lưu vực mô hình hóa đạt 7,967 km². Chuỗi số liệu phân tích kéo dài qua nhiều thập kỷ quan trắc khí tượng thủy văn (1960–2015) và dự báo dài hạn đến năm 2100. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi bảo vệ nguồn cấp nước sinh hoạt cho hơn 20% dân số đô thị Đồng Hới (công suất an toàn 3.000 m³/ngày đêm) và góp phần ổn định an ninh nguồn nước cho hơn 15.000 ha đất ven bờ chịu ảnh hưởng của triều biến đổi khí hậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hai lý thuyết thủy động lực học kinh điển: lý thuyết chuyển động dòng thấm trong môi trường rỗng không đồng nhất và lý thuyết lan truyền vật chất - phân tán thủy động lực học. Chuyển động của nước dưới đất trong tầng chứa nước không áp Holocen được mô tả thông qua phương trình vi phân đạo hàm riêng phi tuyến Boussinesq, tích hợp định luật thấm Darcy và nguyên lý bảo toàn khối lượng liên tục. Quá trình di chuyển và hòa tan của ion muối được mô phỏng bằng phương trình bình lưu - phân tán hai chiều trong hệ tọa độ Đề-các.

Khung mô hình nghiên cứu bao quát các khái niệm cốt lõi bao gồm: hệ số thấm (K = 51 m/ngày), hệ số nhả nước trọng lực (Sy = 0,17), hệ số dẫn nước (Km = 417,16 m²/ngày), độ tổng khoáng hóa nước nhạt tự nhiên (0,15 g/l), ranh giới mặn nhạt quy chuẩn (1,0 g/l), cùng các điều kiện biên thủy lực Dirichlet, Neumann và Cauchy. Cơ chế xâm nhập mặn được kiểm soát chặt chẽ bởi tương tác áp lực thủy tĩnh giữa nêm mặn nước biển và phễu hạ thấp mực nước hình thành khi trạm bơm hồ Bàu Tró vận hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của luận văn được thu thập toàn diện từ mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 1960–2003 (nhiệt độ trung bình năm 24,5°C, lượng mưa bình quân 2.100–2.400 mm), chuỗi quan trắc dao động mực nước biển Nhật Lệ và mực nước hồ Bàu Tró (1989–2003), cùng kết quả khảo sát 4 đợt chất lượng nước dưới đất năm 2015 của Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Quảng Bình.

Phương pháp phân tích chủ đạo là mô hình số phần tử hữu hạn hai chiều. Cỡ mẫu không gian của miền mô hình được cấu trúc hóa thành lưới gồm 4.798 nút và 4.650 phần tử tam giác và tứ giác. Phương pháp chọn mẫu lưới không gian được tính toán tối ưu dựa trên tiêu chuẩn ổn định số học Peclet (nhỏ hơn hoặc bằng 2) và Courant (nhỏ hơn hoặc bằng 1), thiết lập kích thước mỗi phần tử là 10 m x 10 m dọc theo hướng dòng chảy chính vuông góc với bờ biển. Bước thời gian tính toán được chọn là 2 giờ nhằm bắt trọn chu kỳ dao động bán nhật triều của vùng biển Nhật Lệ.

Lý do lựa chọn phương pháp phần tử hữu hạn thay vì phương pháp sai phân hay giải tích thông thường là nhờ khả năng mô phỏng chính xác các biên hình học phức tạp của cồn cát ven biển, mô tả biến thiên phi tuyến của mặt thoáng tự do và phản ánh chi tiết gradien thủy lực biến đổi mạnh giữa hồ và biển. Timeline nghiên cứu được thực hiện qua các bước: nhận dạng tham số địa chất thủy văn, chuẩn hóa dữ liệu biên, hiệu chỉnh mô hình theo đợt hạn mặn lịch sử năm 2002–2003, kiểm chứng độ tin cậy và chạy dự báo theo các kịch bản phát thải.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết các thông số địa chất thủy văn và động thái lan truyền mặn tại khu vực hồ Bàu Tró với các phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, tiềm năng tài nguyên nước dưới đất tầng Holocen xung quanh hồ Bàu Tró đạt tổng trữ lượng khai thác 2.760 m³/ngày đêm, cấu thành từ 2.260 m³/ngày đêm trữ lượng động và 500 m³/ngày đêm trữ lượng tĩnh. Nước ngầm trong điều kiện tự nhiên có chất lượng rất tốt với độ tổng khoáng hóa chỉ 0,15 g/l. Tuy nhiên, do cồn cát giữa biển và hồ chỉ rộng khoảng 300 m đến 450 m, khi mực nước hồ bị hạ thấp xuống cao trình khống chế -0,91 m, gradien thủy lực theo phương ngang tăng vọt lên mức 0,0015, thúc đẩy nước biển chảy tràn vào tầng ngậm nước.

Thứ hai, vận tốc dòng thấm thực tế của nước biển hướng về phía hồ Bàu Tró đạt mức cực đại 0,612 m/ngày trong các thời điểm khô hạn gay gắt. Điển hình như đợt hạn năm 2003, lượng mưa 8 tháng đầu năm suy giảm đến 64% so với trung bình nhiều năm (chỉ đạt 36% chuẩn khí hậu), dẫn đến mực nước hồ rơi xuống -0,57 m kéo dài suốt 7 tháng và làm nhiễm mặn tầng khai thác.

Thứ ba, mô phỏng các kịch bản nước biển dâng cho thấy mức độ mặn hóa gia tăng rõ rệt: ở kịch bản nước biển dâng 50 cm, nêm mặn tiến sát chân đụn cát; ở kịch bản nước biển dâng 75 cm và 100 cm, nồng độ muối tại các nút lưới sát bờ hồ vượt ngưỡng 1,0 g/l sau 90 ngày và tiếp tục tăng lên mức 2,5 g/l đến 5,0 g/l sau 180 ngày nếu chế độ khai thác không được điều chỉnh giảm.

Thứ tư, nghiên cứu xác lập được mối quan hệ ngưỡng an toàn: khi mực nước hồ Bàu Tró được duy trì ổn định ở cao trình từ +0,5 m trở lên so với mực nước biển trung bình, cột áp thủy tĩnh nước ngọt sẽ hình thành tường chắn thủy lực tự nhiên, ngăn chặn hoàn toàn khả năng xâm nhập mặn vào lòng hồ.

Thảo luận kết quả

Cơ chế dịch chuyển nêm mặn nhanh chóng tại hồ Bàu Tró được giải thích bởi đặc thù địa chất tầng chứa nước Holocen thượng. Tầng cát thạch anh có độ rỗng hữu hiệu 0,17 và hệ số dẫn nước rất cao (417,16 m²/ngày), trong khi bề dày tầng chứa nước tương đối mỏng (trung bình 10 m, mùa khô giảm còn 7 m). Khi xảy ra sự chênh lệch mực nước giữa biển và hồ, sự thay đổi áp lực thủy động học diễn ra tức thì, kéo theo quá trình bình lưu đưa ion clo xâm nhập sâu vào nội đồng.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại dải ven biển miền Trung như khu vực Gio Linh (Quảng Trị) hay bãi giếng ven biển Đà Nẵng, tốc độ lan truyền mặn tại hồ Bàu Tró cao hơn khoảng 25% đến 30% do cự ly từ hồ đến mép nước biển quá ngắn và thiếu vắng tầng sét chắn nước ở phía trên. Kết quả này phản ánh chân thực hiện tượng nhiễm mặn thực tế từng xảy ra vào mùa khô năm 1995 và năm 2003.

Về phương diện trực quan hóa, toàn bộ diễn biến nồng độ mặn được thể hiện chi tiết qua biểu đồ đường cong biến thiên nồng độ muối theo thời gian tại 6 nút quan sát trọng điểm ven mép nước hồ và bản đồ đẳng trị phân bố độ mặn 2 chiều trên toàn bộ miền 4.798 nút mạng lưới. Bảng tổng hợp số liệu nồng độ muối theo từng kịch bản nước biển dâng giúp các kỹ sư thủy văn dễ dàng tra cứu ngưỡng biến động chất lượng nước theo từng tháng trong năm. Phát hiện này có ý nghĩa tiên quyết, khẳng định việc khai thác nước tại hồ Bàu Tró thực chất là quá trình rút nước từ tầng chứa nước Holocen, đòi hỏi việc quản lý phải dựa trên sự kiểm soát cao trình mực nước thay vì công suất bơm đơn thuần.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô hình hóa số trị, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

Thứ nhất, thi công tuyến tường hào chống thấm hoặc đê ngầm bán thấm bằng vật liệu sét bentonite kết hợp cọc xi măng đất dọc theo dải cồn cát dài 1.070 m ngăn cách giữa biển Nhật Lệ và hồ Bàu Tró. Công trình có độ sâu ngàm vào tầng sét đáy từ 10 m đến 12 m nhằm mục tiêu cắt giảm ít nhất 85% lưu lượng nước mặn thấm ngang, dự kiến hoàn thành giai đoạn 2027–2028 do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình.

Thứ hai, triển khai hệ thống bổ cập nhân tạo cho tầng chứa nước Holocen bằng cách xây dựng các hào thu gom và hồ thấm nước mưa trên diện tích lưu vực 7,263 km². Giải pháp hướng đến mục tiêu nâng cao trình mực nước ngầm trong cồn cát thêm 0,3 m đến 0,5 m trước khi bước vào mùa khô, thực hiện trong giai đoạn 2028–2029 dưới sự quản lý của Công ty Cổ phần Cấp nước Quảng Bình.

Thứ ba, thiết lập quy chế vận hành khai thác khống chế công suất nghiêm ngặt tại Nhà máy nước Đồng Hới. Giới hạn lưu lượng bơm hút tối đa ở mức 3.000 m³/ngày đêm trong mùa khô và bắt buộc ngừng bơm tự động khi mực nước hồ hạ xuống chạm ngưỡng cảnh báo +0,5 m; đồng thời điều tiết chuyển tải 80% nhu cầu nước còn lại sang nguồn cấp từ hồ Phú Vinh (công suất 19.000 m³/ngày đêm), áp dụng định kỳ hàng năm bắt đầu từ năm 2027.

Thứ tư, lắp đặt mạng lưới quan trắc tự động gồm 12 giếng khoan quan trắc đa tầng phân bố dọc bờ biển và ven hồ Bàu Tró. Hệ thống tích hợp cảm biến đo tự động mực nước, độ dẫn điện EC và độ tổng khoáng hóa TDS với tần suất truyền dữ liệu 15 phút/lần về trung tâm điều hành nhằm mục tiêu đưa ra cảnh báo sớm nguy cơ nhiễm mặn trước 15 đến 30 ngày, do Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Quảng Bình vận hành từ năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thủy lợi tỉnh Quảng Bình): Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, điều chỉnh quy hoạch phân bổ tài nguyên nước mặt và nước dưới đất tỉnh Quảng Bình tầm nhìn 2030–2050, xây dựng hành lang bảo vệ nguồn nước sinh hoạt hồ Bàu Tró.

Thứ hai, đơn vị khai thác và cấp thoát nước đô thị (Công ty Cổ phần Cấp nước Quảng Bình, Nhà máy nước Đồng Hới): Doanh nghiệp có thể ứng dụng trực tiếp ngưỡng mực nước vận hành khống chế (+0,5 m) và biểu đồ phân bố độ mặn để điều tiết công suất trạm bơm, phòng tránh triệt để sự cố mặn hóa mạng lưới đường ống cấp nước.

Thứ ba, các viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia ngành Địa chất thủy văn, Địa chất môi trường: Đề tài cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về ứng dụng phương pháp phần tử hữu hạn, thuật toán xử lý biên động học và bộ thông số địa chất thủy văn thực nghiệm chuẩn xác cho vùng cát ven biển miền Trung.

Thứ tư, kỹ sư tư vấn quy hoạch đô thị và công trình thích ứng biến đổi khí hậu: Cung cấp case study điển hình về tính toán tương tác nước mặt - nước ngầm dưới kịch bản nước biển dâng (50 cm đến 100 cm), phục vụ thiết kế các công trình đê kè sinh thái, vùng đệm ngăn mặn cho các đô thị duyên hải có điều kiện địa chất tương đồng.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất thủy lực của việc khai thác nước tại hồ Bàu Tró được hiểu như thế nào? Khai thác nước tại hồ Bàu Tró thực chất là quá trình khai thác gián tiếp nước dưới đất từ tầng chứa nước Holocen bao quanh hồ. Với diện tích mặt thoáng 0,494 km² trong lưu vực 7,263 km², hồ đóng vai trò như một giếng thu nước khổng lồ. Việc bơm hút nước hồ sẽ lập tức tạo phễu hạ thấp mực nước ngầm của toàn bộ dải cồn cát xung quanh.

Tại sao hồ Bàu Tró lại cực kỳ nhạy cảm với hiện tượng xâm nhập mặn khi nước biển dâng? Hồ Bàu Tró nằm cách bờ biển Nhật Lệ chỉ từ 300 m đến 450 m, ngăn cách bởi dải cát có hệ số thấm rất lớn đạt 51 m/ngày. Khi nước biển dâng từ 50 cm đến 100 cm, chênh lệch áp lực thủy tĩnh tăng cao khiến vận tốc dòng thấm mặn đạt tới 0,612 m/ngày, nhanh chóng vượt qua cồn cát để xâm nhập vào hồ.

Ngưỡng khai thác an toàn tại hồ Bàu Tró được xác định là bao nhiêu để không bị nhiễm mặn? Mặc dù công suất thiết kế ban đầu là 9.000 m³/ngày đêm, nghiên cứu chỉ ra rằng lưu lượng khai thác an toàn trong mùa khô chỉ nên duy trì ở mức tối đa 3.000 m³/ngày đêm. Đặc biệt, trạm bơm phải giảm lưu lượng hoặc dừng hẳn khi mực nước hồ hạ xuống mức +0,5 m so với mực nước biển chuẩn.

Phương pháp phần tử hữu hạn mang lại ưu thế gì vượt trội trong nghiên cứu này? Phương pháp phần tử hữu hạn cho phép rời rạc hóa miền mô hình phức tạp thành 4.798 nút và 4.650 phần tử với kích thước lưới chi tiết 10 m. Điều này giúp mô phỏng chính xác các điều kiện biên chuyển động và biên lan truyền mặn phi tuyến, phản ánh chân thực dao động triều 2 giờ/lần mà các mô hình giải tích không thực hiện được.

Nước biển dâng tác động như thế nào đến nguồn nước sinh hoạt của thành phố Đồng Hới? Nếu nước biển dâng 100 cm mà không có giải pháp kiểm soát, độ mặn tại các khu vực giáp hồ sẽ vượt quá ngưỡng 1,0 g/l đến 5,0 g/l, làm suy thoái nguồn nước nhạt tự nhiên (độ mặn gốc 0,15 g/l), đe dọa trực tiếp nguồn nước cấp sinh hoạt của hơn 20% dân số khu vực nội thị Đồng Hới.

Kết luận

Nội dung nghiên cứu của luận văn được đúc kết qua 5 kết quả cốt lõi:

  • Xây dựng thành công mô hình toán phần tử hữu hạn 2 chiều với 4.798 nút và 4.650 phần tử, mô phỏng chính xác tương tác dòng thấm và lan truyền mặn giữa biển Nhật Lệ và hồ Bàu Tró.
  • Xác định các thông số thủy động lực học then chốt của tầng chứa nước cát Holocen: hệ số thấm K = 51 m/ngày, hệ số nhả nước Sy = 0,17 và vận tốc thấm mặn cực đại 0,612 m/ngày.
  • Định lượng hóa rủi ro xâm nhập mặn dưới 3 kịch bản nước biển dâng 50 cm, 75 cm và 100 cm, chứng minh nguy cơ mặn hóa nghiêm trọng nếu công suất khai thác vượt quá 3.000 m³/ngày đêm.
  • Thiết lập chuẩn mực vận hành thực địa với cao trình mực nước hồ khống chế an toàn là +0,5 m nhằm bảo vệ túi nước nhạt tự nhiên.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình (đê ngầm, hào bổ cập) và phi công trình (quan trắc tự động, điều tiết liên hồ) với lộ trình thực hiện rõ ràng giai đoạn 2027–2030.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuyển hóa bài toán địa chất thủy văn phức tạp thành công cụ số hóa phục vụ ra quyết định quy hoạch tài nguyên nước. Các cơ quan quản lý và đơn vị cấp nước cần nhanh chóng ứng dụng bộ thông số và ngưỡng khống chế của mô hình vào kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Bình ngay từ hôm nay để đảm bảo an ninh nguồn nước bền vững cho tương lai.