Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 7.513,7 nghìn ha đất gieo trồng lúa với tổng sản lượng hàng năm đạt xấp xỉ 39.988,9 nghìn tấn, giữ vị thế quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới. Tuy nhiên, bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đang đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước và nền nông nghiệp quốc gia, đặc biệt tại các dải đồng bằng ven biển hẹp miền Trung. Tỉnh Quảng Bình với diện tích tự nhiên 801.200 ha có địa hình dốc mạnh từ Tây sang Đông, bề ngang nơi hẹp nhất chưa đầy 50 km, khiến hệ thống sông ngòi có đặc điểm ngắn, dốc và biên độ thủy triều xâm nhập sâu. Hệ thống sông Gianh là lưu vực sông lớn nhất tỉnh với chiều dài dòng chính 158 km và diện tích lưu vực 4.680 km2, giữ vai trò huyết mạch cung cấp nước ngọt cho đời sống dân sinh cùng hơn 54.271 ha đất canh tác nông nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự phân bố dòng chảy không đều giữa hai mùa lũ và cạn. Trong mùa kiệt kéo dài từ 7 đến 10 tháng, lưu lượng dòng chảy hạ thấp nghiêm trọng, có thời điểm chỉ đạt 17,8 m3/s tại trạm thủy văn Đồng Tâm. Sự suy giảm nguồn nước ngọt kết hợp với xu thế biến đổi khí hậu làm nền nhiệt độ khu vực dự báo tăng thêm 3,6 độ C và mực nước biển dâng từ 65 cm đến 120 cm vào năm 2100. Hiện tượng này thúc đẩy quá trình xâm nhập mặn tiến sâu vào đất liền, gây nguy cơ thiếu nước sinh hoạt cho hơn 20.000 người dân vùng hạ lưu và làm nhiễm mặn hàng chục nghìn hecta đất sản xuất.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá định lượng mức độ ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến quá trình lan truyền mặn trên sông Gianh theo các kịch bản phát thải khác nhau. Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thực đo giai đoạn 1961 - 2005 và dữ liệu địa hình, thủy triều chi tiết năm 2013 để mô phỏng diễn biến ranh giới mặn theo không gian và thời gian. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp các cơ quan quản lý chủ động điều tiết nguồn nước, bảo vệ 24,6% tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế địa phương và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai ngập mặn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết thủy động lực học dòng chảy cửa sông và lý thuyết lan truyền - khuếch tán vật chất trong môi trường nước mặt phân tầng. Chế độ động lực học vùng cửa sông chịu sự chi phối tổng hợp của bốn yếu tố: dao động mực nước triều từ biển, chênh lệch trọng lực do tỷ trọng giữa nước ngọt và nước mặn, áp lực dòng chảy thượng nguồn đẩy nước ra biển, cùng lực Coriolis kết hợp lực ly tâm sinh ra do sự quay của Trái Đất và độ uốn cong của lòng dẫn. Phương trình chuyển động của khối nước và quá trình lan truyền muối được thiết lập dựa trên hệ phương trình dòng chảy rối thủy tĩnh ba chiều đối với chất lỏng không nén, tích hợp phép xấp xỉ Boussinesq để mô tả sự thay đổi tỷ trọng.

Các khái niệm then chốt trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Độ mặn (S): Tổng hàm lượng muối tan tính bằng g/l hoặc mg/l, có mối quan hệ tương quan chặt chẽ với nồng độ ion Cl- theo công thức chuyển đổi chuẩn S (g/l) = 0,0018066 x (nồng độ Cl- tính bằng mg/l).
  2. Ngưỡng mặn nông nghiệp và sinh hoạt: Nước có độ mặn vượt quá 4 g/l được phân loại không thể sử dụng cho tưới tiêu; nước có độ mặn lớn hơn 1 g/l không thể dùng cho mục đích sinh hoạt. Tiêu chuẩn vệ sinh nước uống quy định giới hạn Cl- tối đa là 0,25 g/l (tương đương độ mặn 0,45 g/l), trong khi Tiêu chuẩn chất lượng nước tưới tiêu TCVN 6773:2000 giới hạn nồng độ Cl- không vượt quá 0,35 g/l (tương đương độ mặn 0,63 g/l).
  3. Xâm nhập mặn: Hiện tượng khối nước mặn có nồng độ từ 4 g/l trở lên lấn sâu vào vùng nước ngọt nội đồng khi triều cường dâng cao trong điều kiện lưu lượng thượng nguồn cạn kiệt.

Về mặt toán học, nghiên cứu ứng dụng phương pháp sai phân hữu hạn để rời rạc hóa hệ phương trình đạo hàm riêng. Lưới tính toán sử dụng phép xấp xỉ sai phân trung tâm bậc hai với sai số cắt cụt đạt bậc O(delta x mũ 2), kết hợp phép biến đổi tọa độ cong trực giao trên mặt phẳng ngang và phép biến đổi sigma theo chiều thẳng đứng nhằm giải quyết chính xác bài toán biên động tại đáy sông và mặt thoáng tự do.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Bình với chuỗi số liệu lịch sử kéo dài 44 năm (1961 - 2005). Hệ thống dữ liệu bao gồm 3 trạm khí tượng (Đồng Hới, Ba Đồn, Tuyên Hóa), 3 trạm thủy văn trên sông Gianh (Đồng Tâm đo lưu lượng nước ngọt, Mai Hóa và Tân Mỹ đo mực nước triều), cùng 5 trạm đo mưa phân bố trên lưu vực. Cỡ mẫu địa hình lòng dẫn được xây dựng từ hàng chục mặt cắt ngang đo đạc thực tế dọc suốt 158 km chiều dài sông Gianh. Chuỗi số liệu dao động triều chi tiết từ ngày 01/01/2013 đến ngày 30/04/2013 được lựa chọn làm điều kiện biên động lực học đại diện cho thời kỳ kiệt gay gắt nhất.

Lý do lựa chọn mô hình EFDC (Environmental Fluid Dynamics Code) bắt nguồn từ khả năng tích hợp linh hoạt 4 mô-đun chức năng: thủy động lực học, vận chuyển bùn cát, chất lượng nước và lan truyền chất hòa tan. EFDC cho phép thiết lập hệ lưới cong trực giao bám sát luồng lạch tự nhiên và đường bờ phức tạp của sông Gianh. Các thông số đầu vào được kiểm soát chặt chẽ với nồng độ mặn ban đầu trên toàn miền tính là 0,1 g/l, nồng độ mặn tại biên cửa biển là 30 g/l, bước thời gian tính toán tối ưu delta t = 8 giây nhằm đảm bảo điều kiện ổn định Courant - Friedrichs - Lewy. Quy trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được thực hiện thông qua việc so sánh mực nước và độ mặn tính toán với số liệu thực đo tại các trạm Tân Mỹ và Mai Hóa, chứng minh độ tin cậy cao của công cụ mô phỏng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng thủy động lực học và lan truyền mặn trên sông Gianh đã làm sáng tỏ quy luật dịch chuyển của khối nước mặn theo chu kỳ triều và theo các kịch bản nước biển dâng:

  1. Trạng thái nền hiện tại (Triều cường năm 2013, nước biển chưa dâng): Khi lưu lượng thượng nguồn đạt mức kiệt, sau 11 ngày mô phỏng liên tục dưới tác động của triều cường, dải mặn từ 0,1 g/l đến 30 g/l đã thâm nhập sâu vào cửa sông. Ranh giới mặn 4 g/l đẩy sâu về phía thượng lưu qua khu vực thị xã Ba Đồn, đe dọa các cống lấy nước nông nghiệp vùng hạ du.

  2. Kịch bản nước biển dâng thấp 65 cm (Dự báo năm 2050): Mực nước biển dâng làm gia tăng áp lực truyền triều, khiến tỷ lệ ngập úng toàn tỉnh Quảng Bình đạt 1,73% diện tích tự nhiên (tương đương 13.860 ha đất bị ngập). Sau 11 ngày vận hành triều, chiều sâu xâm nhập của lưỡi mặn 4 g/l tiến xa hơn về phía thượng nguồn khoảng 3,5 km đến 5,0 km so với điều kiện hiện tại. Ranh giới nồng độ mặn 0,1 g/l mở rộng phạm vi bao phủ hầu trọn vùng hạ lưu huyện Quảng Trạch.

  3. Kịch bản nước biển dâng trung bình 80 cm (Dự báo năm 2070): Diện tích nguy cơ ngập lụt tăng lên 2,01% (tương ứng 16.104 ha). Chiều sâu xâm nhập mặn trong dải nồng độ từ 0,1 g/l đến 30 g/l gia tăng từ 12% đến 18% về độ dài lan truyền. Trạm thủy văn Mai Hóa bắt đầu ghi nhận sự xuất hiện của các đợt nước lợ có nồng độ muối vượt ngưỡng 1 g/l vào các kỳ triều cường đỉnh điểm.

  4. Kịch bản nước biển dâng cao 120 cm (Dự báo năm 2100): Tỷ lệ ngập lụt đạt mức đỉnh điểm 2,64% diện tích toàn tỉnh (tương đương 21.151 ha). Dưới kịch bản này, chiều sâu xâm nhập mặn lớn nhất trong năm mở rộng tối đa, lưỡi mặn nồng độ cao 4 g/l - 30 g/l thâm nhập sâu vào nội địa hàng chục kilômét, làm tê liệt hoàn toàn khả năng lấy nước ngọt phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt của tất cả các công trình thủy lợi dọc hạ lưu sông Gianh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự gia tăng đột biến của chiều sâu xâm nhập mặn là sự mất cân bằng động lực giữa hai khối nước. Mùa cạn tại Quảng Bình chỉ chiếm từ 21% đến 39% tổng lượng dòng chảy năm, khiến lưu tốc đẩy ngọt từ thượng nguồn suy yếu rõ rệt. Khi mực nước biển dâng cao từ 65 cm đến 120 cm, độ sâu cột nước tại cửa biển tăng lên làm giảm sức cản đáy, tạo điều kiện cho sóng triều truyền nhanh và bảo toàn năng lượng khi tiến sâu vào đất liền. Trọng lực riêng lớn hơn của nước biển (độ mặn 30 g/l) thúc đẩy sự hình thành nêm mặn đáy chui sâu dưới lớp nước ngọt mặt, gây ra hiện tượng phân tầng mật độ mạnh mẽ.

Kết quả mô phỏng sông Gianh hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thủy văn cửa sông tại khu vực Bắc Trung Bộ, khẳng định tính quy luật của sự tương tác sông - biển. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan và khoa học thông qua hệ thống bản đồ nguy cơ ngập ứng với mực nước biển dâng 100 cm, các biểu đồ biến thiên nồng độ mặn theo thời gian 3 ngày, 5 ngày, 9 ngày và 11 ngày, cùng bảng tổng hợp so sánh chiều sâu xâm nhập mặn lớn nhất giữa các kịch bản. Việc trực quan hóa này giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng nhận diện các điểm xung yếu có nồng độ mặn vượt quá tiêu chuẩn 0,35 g/l và 0,25 g/l để đưa ra quyết định ứng phó kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá định lượng về xâm nhập mặn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu và nước biển dâng:

  1. Thiết lập mạng lưới quan trắc cảnh báo độ mặn tự động thời gian thực: Đầu tư lắp đặt 6 trạm đo độ mặn tự động truyền dữ liệu liên tục dọc tuyến sông Gianh từ Cửa Gianh đến thượng lưu trạm Mai Hóa trước năm 2028. Cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ. Mục tiêu hướng tới là cung cấp bản tin dự báo xâm nhập mặn chính xác 100% trước 24 đến 48 giờ cho các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi.

  2. Cải tạo, nâng cấp công trình ngăn mặn và hệ thống cống tiêu tự chảy: Tiến hành kiên cố hóa hệ thống đê sông, đê biển và xây dựng mới các cống ngăn mặn tự động đóng mở theo con triều tại các huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa và thị xã Ba Đồn trong giai đoạn 2026 - 2035. Chủ thể thực hiện là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Giải pháp nhằm bảo vệ an toàn cho 54.271 ha đất canh tác nông nghiệp, đồng thời ngăn chặn triệt để nguy cơ mặn xâm nhập vào các tầng chứa nước ngầm nhạt ven sông.

  3. Xây dựng quy chế điều tiết xả nước tăng cường từ các hồ chứa thượng nguồn: Ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Gianh trong các tháng cao điểm mùa khô (từ tháng 3 đến tháng 7) bắt đầu áp dụng từ năm 2027. Đơn vị chủ trì là Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình phối hợp với các chủ đầu tư thủy điện, thủy lợi. Mục tiêu duy trì lưu lượng xả đáy thường xuyên lớn hơn 25 m3/s tại trạm Đồng Tâm nhằm tạo dòng chảy sinh thái đẩy lùi nêm mặn, hạ thấp nồng độ Cl- tại các cửa lấy nước xuống dưới ngưỡng 0,35 g/l.

  4. Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng và mô hình sinh kế nông nghiệp: Triển khai quy hoạch chuyển đổi khoảng 3.500 ha diện tích trồng lúa kém hiệu quả tại các vùng trũng thấp ven sông sang mô hình luân canh tôm - lúa hoặc nuôi trồng thủy sản nước lợ có giá trị kinh tế cao trước năm 2030. Cơ quan chỉ đạo là Ủy ban Nhân dân các huyện vùng hạ lưu sông Gianh, giúp nâng cao thu nhập cho hơn 15.000 hộ nông dân và giảm thiểu rủi ro thiệt hại mùa màng do thiên tai nhiễm mặn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và nông nghiệp (Sở TN&MT, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Bình): Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu khoa học định lượng về 3 kịch bản ngập mặn (65 cm, 80 cm, 120 cm) phục vụ công tác rà soát quy hoạch không gian đới bờ, xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp tỉnh và thiết lập các phương án bảo vệ nguồn nước ngọt lâu dài.

  2. Đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi và cấp nước sinh hoạt: Giúp các kỹ sư nắm bắt chính xác quy luật truyền mặn theo chu kỳ triều cường 11 ngày để xây dựng lịch vận hành đóng mở cống, trạm bơm lấy nước hợp lý, tránh tình trạng bơm nước nhiễm mặn vượt quá 1 g/l vào đồng ruộng và hệ thống xử lý nước sinh hoạt.

  3. Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên nước, Thủy văn học: Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận ứng dụng mô hình số trị ba chiều EFDC, kỹ thuật tạo lưới cong trực giao và phương pháp giải bài toán lan truyền chất phân tầng bằng sai phân hữu hạn.

  4. Chính quyền địa phương cấp huyện, xã và các hợp tác xã sản xuất ven sông Gianh: Khai thác bản đồ khoanh vùng nguy cơ nhiễm mặn để chủ động điều chỉnh lịch thời vụ gieo cấy lúa vụ Hè Thu, bố trí cơ cấu cây trồng chịu mặn và xây dựng các phương án trữ nước ngọt cục bộ phục vụ dân sinh trong mùa kiệt.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mô hình EFDC mang lại ưu thế gì vượt trội so với các mô hình một chiều truyền thống trong nghiên cứu sông Gianh? EFDC là phần mềm mô phỏng thủy động lực học ba chiều tích hợp đầy đủ các quá trình sinh - địa - hóa. Mô hình giải quyết xuất sắc bài toán lưới cong trực giao bám sát địa hình phức tạp của 158 km sông Gianh, đồng thời mô tả chân thực hiện tượng phân tầng mật độ và nêm mặn đáy với bước thời gian 8 giây, điều mà các mô hình một chiều không thể thực hiện chính xác.

  2. Nước biển dâng ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến diện tích ngập lụt tại tỉnh Quảng Bình? Theo tính toán từ Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, tương ứng với các kịch bản nước biển dâng 65 cm, 80 cm và 120 cm, tỷ lệ diện tích bị ngập của Quảng Bình lần lượt là 1,73%, 2,01% và 2,64% trên tổng số 801.200 ha diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu tại các vùng đồng bằng trũng thấp ven sông Gianh và Nhật Lệ.

  3. Vì sao xâm nhập mặn trên sông Gianh diễn biến gay gắt nhất vào các tháng mùa cạn? Vào mùa cạn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau, lượng dòng chảy từ thượng nguồn suy giảm mạnh, lưu lượng kiệt tháng 4 chỉ đạt 17,8 m3/s. Khi áp lực dòng ngọt đẩy ra biển suy yếu, lực triều mang nước mặn 30 g/l từ biển Đông dễ dàng xâm nhập sâu vào lòng sông và duy trì nồng độ mặn cao trong nhiều ngày.

  4. Giới hạn độ mặn an toàn cho tưới tiêu nông nghiệp và nước sinh hoạt được quy định ra sao? Nước có độ mặn từ 4 g/l trở lên hoàn toàn không thể tưới tiêu cho cây trồng, và độ mặn trên 1 g/l không thể dùng cho sinh hoạt. Tiêu chuẩn Bộ Y tế quy định hàm lượng Cl- tối đa trong nước uống là 0,25 g/l (độ mặn 0,45 g/l), trong khi Tiêu chuẩn TCVN 6773:2000 quy định nước tưới tiêu phải có hàm lượng Cl- không vượt quá 0,35 g/l (độ mặn 0,63 g/l).

  5. Kết quả mô phỏng chu kỳ triều 11 ngày có ý nghĩa thực tiễn như thế nào đối với sản xuất nông nghiệp? Mô phỏng cho thấy sau 11 ngày triều cường liên tục, nêm mặn đạt khoảng cách thâm nhập xa nhất vào nội đồng. Dữ liệu này giúp các trạm thủy nông xác định chính xác thời điểm đỉnh mặn để ngừng vận hành trạm bơm lấy nước, ngăn ngừa nguy cơ đưa nước mặn vào đồng ruộng gây chết lúa và thoái hóa đất canh tác.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công mô hình số trị EFDC để mô phỏng chính xác chế độ thủy động lực và quá trình lan truyền mặn trên toàn tuyến 158 km lưu vực sông Gianh.
  • Định lượng chi tiết mức độ gia tăng xâm nhập mặn theo 3 kịch bản nước biển dâng: phát thải thấp 65 cm (năm 2050), trung bình 80 cm (năm 2070) và cao 120 cm (năm 2100).
  • Xác định rõ sự mở rộng không gian của ranh giới mặn 4 g/l và 0,1 g/l trong điều kiện lưu lượng kiệt 17,8 m3/s, đe dọa trực tiếp các công trình khai thác nước ngọt vùng hạ lưu.
  • Đánh giá nguy cơ ngập lụt toàn diện, chỉ ra diện tích ngập úng tăng từ 1,73% lên 2,64% diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Bình.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ nhằm bảo vệ tài nguyên nước và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh toàn diện, định lượng về tác động của biến đổi khí hậu đến chất lượng nước mặt sông Gianh, tạo tiền đề khoa học vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên nước tại vùng ven biển miền Trung. Trong giai đoạn 2026 - 2030, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng mô hình hóa tích hợp cho toàn bộ hệ thống các sông chính như sông Nhật Lệ, Kiến Giang, đồng thời nghiên cứu sâu hơn về mối liên hệ tương tác giữa xâm nhập mặn nước mặt và quá trình mặn hóa các tầng chứa nước ngầm nhạt. Các cơ quan ban ngành và chính quyền địa phương cần khẩn trương tích hợp các kịch bản lan truyền mặn này vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để chủ động bảo vệ nguồn nước và ổn định đời sống nhân dân.