Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái niệm về đất và đất nông nghiệp Đất là nguồn tài nguyên quý báu của quốc gia, là điều kiện tiên quyết của bất kỳ ngành sản xuất vật chất nào trong xã hội. Hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về đất.
Theo Docutraiep - người Nga (1879), là người đầu tiên đã xác định một cách khoa học cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất gồm: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian”. [9] Đất là một vật thể thiên nhiên được tồn tại một cách độc lập, có trước con người và tồn tại ngoài ý chí chủ quan của con người. Đây là cách nhìn nhận theo quan điểm phát sinh nguồn gốc của đất. Đó là một quá trình hình thành phức tạp của tự nhiên, tổng hợp của nhiều yếu tố cấu thành nên đất.
Sau này, nhiều học giả nhận thấy rằng cần bổ sung thêm nhân tố con người làm nhân tố thứ 6 ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất, và coi đây là nhân tố quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển hay suy thoái tài nguyên đất. Đất được xem như một thể sống, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển. Đất là tài nguyên hữu hạn song có khả năng phục hồi, tái tạo tuỳ thuộc vào cách mà con người tác động lên nó. Trên trái đất, ở các vùng địa lý và sinh thái khác nhau, đất được hình thành và có độ phì khác nhau rõ rệt bởi các yếu tố hình thành đất tác động, đó là các yếu tố sinh vật, địa hình, khí hậu, đá mẹ, thời gian và tác động của con người.Viliam thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng.
Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa "đá mẹ" và đất là độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là đất. Độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể cung cấp nước, thức ăn và đảm bảo các điều kiện khác để cây trồng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất. Như vậy độ phì không phải chỉ là số lượng chất 5 dinh dưỡng tổng số trong đất mà là khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nhiều hay ít. Khả năng đó nhiều hay ít (tức độ phì cao hay thấp) là do các tính chất lý học, hóa học và sinh học của đất quyết định; ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và tác động của con người.
Như vậy, nguồn gốc của đất là từ các loại "đá mẹ" nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác dụng của yếu tố lý học, hóa học và sinh học, tạo ra độ phì nhiêu để cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất. Đối với đất trồng trọt ngoài những yếu tố tự nhiên, thì yếu tố con người có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đất. Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đất là một tư liệu sản xuất vô cùng quý giá, cơ bản và không gì thay thế được, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, vừa là công cụ lao động, vừa là đối tượng lao động, quyết định đến năng suất, phẩm chất của sản phẩm. Nhìn nhận trên góc độ nghiên cứu về sử dụng đất, đất là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Đất được coi như một “hệ đệm”, như một “phễu lọc” luôn luôn làm trong sạch môi trường với tất cả các chất thải do hoạt động sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng trên trái đất. - Đất nông nghiệp: là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra các sản phẩm thiết yếu của con người. Đất nông nghiệp ngày càng có những ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người nhất là trong bối cảnh thế giới đang đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu thì việc nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp là vô cùng cấp thiết.
Khái niệm về sử dụng đất nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội. Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người 6 với thiên nhiên. Trong hoạt động sống của mình, con người đã tìm ra các phương thức sản xuất cùng với những biện pháp kỹ thuật tác động lên đất để tiến hành các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Sử dụng đất nông nghiệp là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người – đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường.
Bùi Nữ Hoàng Anh (2013) [1] Quá trình tác động đó gắn liền với các giai đoạn phát triển của con người và xã hội. Sử dụng đất nông nghiệp luôn gắn với một phạm vi không gian nhất định, thể hiện qua cơ cấu sử dụng đất, quy mô sử dụng đất và mức độ khai thác sức sản xuất của đất. Ngày nay, cùng với sự tiến bộ và phát triển như vũ bão của nhân loại, thế giới đang đứng trước những thách thức của vấn đề an ninh lương thực và môi trường sinh thái, thì sử dụng đất nông nghiệp như thế nào đang là một vấn đề được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Loại hình sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất 1.
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT): Là thực trạng sử dụng đất của một vùng đất (hay đơn vị đất, khoanh đất, vạt đất .), có các đặc trưng về điều kiện kinh tế – xã hội, phương thức quản lý, kỹ thuật sản xuất. tại một thời điểm nhất định. Hoặc: LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với các phương thức quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định. - Loại sử dụng đất chính (Major type of land use): Là thực trạng sử dụng đất tổng quát của một vùng đất.
Đó là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất các cây trồng hàng năm, cây lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi… Tuy nhiên trong đánh giá đất (LE- Land Evaluation), nếu chỉ xem xét việc sử dụng đất qua các loại hình sử dụng đất chính thì chưa đủ, sẽ có những câu hỏi như sau được đưa ra trong quá trình đánh giá đất: - Những loại cây trồng hay những giống loài cây gì sẽ được trồng? điều này rất quan trọng vì mỗi loài, giống cây khác nhau sẽ đòi hỏi điều kiện đất đai khác nhau. - Các loại phân bón được dùng đã đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của các loài cây trồng chưa? Đôi khi sử dụng phân bón không hợp lý còn giảm độ phì của đất. 7 Để trả lời được những vấn đề nêu trên, cần phải có những mô tả chi tiết hơn trong việc sử dụng đất, vì vậy một khái niệm “ Loại hình sử dụng đất” (LUT) được đề cập trong LE. - Kiểu sử dụng đất: Là sự phân chia chi tiết của các loại sử dụng đất.
Những loại hình của sử dụng đất này có thể hiểu theo nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính (Major type of land use) hoặc có thể được mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT), LUT còn có nghĩa là kiểu sử dụng đất (Land Use Utilization). Hệ thống sử dụng đất (Land Use System – LUS): Là sự kết hợp của đơn vị bản đồ đất đai và loại hình sử dụng đất (hiện tại và tương lai), hay là loại sử dụng đất riêng biệt được thực hiện trên một vạt đất nhất định kết hợp với đầu tư, thu nhập và khả năng cải tạo đất như: làm bằng, tưới, tiêu. Mỗi một hệ thống sử dụng đất (LUS) có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai. Hợp phần đất đai của LUS là các đặc tính đất của LMU, ví dụ như thời vụ, cây trồng, độ dốc %, thành phần cơ giới đất.
Hợp phần sử dụng đất của hệ thống sử dụng đất là sự mô tả loại hình sử dụng đất (LUT) bởi các thuộc tính. Các đặc tính của LMU và các thuộc tính của LUT đều ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đai. Các thuộc tính cơ bản của loại hình sử dụng đất Là các đặc tính, tính chất mô tả đặc điểm, hiện trạng của các loại hình sử dụng đất Theo H.Hulzing, 1993, loại hình sử dụng đất gồm các thuộc tính cơ bản sau đây: * Nhóm thuộc tính sinh học: Gồm các sản phẩm và lợi ích khác mà LUT mang lại * Nhóm thuộc tính kinh tế - xã hội: gồm các thông tin cơ bản về: - Định hướng thị trường: Là thuộc tính của loại hình sử dụng đất được mô tả theo định lượng, thể hiện - Khả năng vốn: Khả năng vốn đầu tư được quy thành mức vốn theo các cấp: chi phí trở lại và đầu tư vốn. - Khả năng lao động: Được biểu thị là số công lao động/LUT theo mùa vụ, theo năm hoặc theo thời điểm lao động mùa vụ, bao gồm cả lao động của nông hộ và lao động thuê mướn.
8 - Kỹ thuật, kiến thức và quan điểm: Sự hiểu biết kỹ thuật và quan điểm sản xuất của chủ sử dụng đất được biểu thị qua trình độ giáo dục phổ cập và trình độ kỹ thuật cũng như qua hiệu quả tiếp thu đổi mới và thay đổi sản xuất. * Nhóm thuộc tính kỹ thuật và quản lý - Sở hữu đất đai và quy mô quản lý đất - Sức kéo/cơ giới hoá: Phản ảnh phương thức sản xuất giữa việc sử dụng nhân công, sức kéo gia súc hay bằng máy móc.