Đặt vấn đề Việt nam là một trong các nước có sản lượng thịt tiêu thụ bình quân đầu người không ngừng tăng lên qua các năm với mức tăng trưởng khoảng 2,19%/năm. Tính đến năm 2013, mỗi người Việt Nam tiêu thụ 49,3kg thịt hơi(tương đương khoảng 30kg thịt xẻ /năm) chủ yếu là các sản phẩm về chăn nuôi lợn. Chính vì thế mà Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác giống và không ngừng nâng cao năng suất của ngành chăn nuôi lợn. Hàng loạt các vấn đề quản lý, kỹ thuật chăn nuôi lợn ở nước ta đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết nhằm tiến kịp với trình độ chăn nuôi của các nước trong khu vực và trên thế giới.
đặc biệt nước ta là một nước thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên rất thích hợp cho các bệnh truyền nhiễm phát triển mạnh và lây lan nhanh. Do đó sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi lợn. Ngoài ra các yếu tố như giống thức ăn dinh dưỡng, điều kiện khí hậu thì công tác thú y là rất quan trọng quyết định sự thành bại của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Riêng trên lợn con trong điều kiện nóng ẩm như nước ta thì tình hình dịch bệnh xảy ra còn rất phức tạp đặc biệt là hội chứng tiêu chảy lợn con ở các lứa tuổi khác nhau.
Hội chứng tiêu chảy lợn con làm cho lợn gầy sút, còi cọc làm giảm năng suất nặng có thể chết cả đàn lợn con.Vì vậy việc phòng và điều trị là một vấn đề hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Đánh giá tình hình mắ c h ội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, Ba Vì, Hà Nội và biê ̣n pháp điều trị bệnh”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Nâng cao được trình độ chuyên môn - Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi ở địa phương, phương pháp chăn nuôi đúng, cách phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở chăn nuôi.
- Biết được nguyên nhân và biện pháp điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con. Yêu cầu - Hiểu và xác định tình hình nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại trang trại lợn Nguyễn Thanh Lịch. - Biết được triệu chứng, hiểu được nguyên nhân, biết cách chẩn đoán điều trị HCTC ở lợn con đạt kết quả cao. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong khoa hoc Từ những số liệu cũng như nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để người chăn nuôi có những biện pháp phòng, chống dịch bệnh cho đàn lợn và làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn Trên cơ sở các đánh giá có ý kiến tư vấn đúng giúp người chăn nuôi có biện pháp áp dụng kỹ thuật đúng để đảm bảo nâng cao chất lượng, số lượng đàn lợn ở cơ sở đem lại hiệu quả kinh tế. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm sinh lý của lợn con Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo, chức năng hệ tiêu hóa và miễn dịch. Lợn con trước một tháng tuổi không có HCL tự do trong dịch vị vì lúc này lượng acid tiết ra và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy. Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở lợn con. Hơn nữa vì thiếu acid HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa).
Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh. Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1%. Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt. Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường.
Ông Cù Xuân Dần và cs (1996) [6] cho biết lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 là đột ngột giảm thấp trong khi nhu cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên. Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress. Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt. Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp.
Khi ra ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể non yêu cầu. Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40 - 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn e 4 con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ. Vì vậy, cần bổ sung thêm ít nhất là 200 - 250mg/con để lợn tránh thiếu máu. Trong sữa mẹ không chỉ thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hóa một số enzym.
Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm, lợn con dễ mắc tiêu chảy. * Đặc điểm sinh trưởng phát dục của lợn con Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao. Acid amin là nguyên liệu chủ yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con. Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất nhanh, trong vòng 10 đến 14 ngày, thể trọng tăng gấp 1,3 lần, sau 2 tháng tuổi khối lượng lợn con có thể tăng 14 đến 15 lần so với sơ sinh.
Nếu sữa mẹ không bảo đảm đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của cơ thể sẽ bị chậm hoặc ngừng lại, khả năng chống đỡ bệnh tật rất kém nên cơ thể dễ bị nhiễm bệnh. * Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, sau khi cai sữa cơ thể lợn trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái, cấu tạo và sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới. Sau khi sinh ra, ở lợn con chức năng tiêu hóa của dạ dày còn hạn chế, dễ gây rối loạn trao đổi chất mà hậu quả là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn. Lợn con trước 1 tháng tuổi có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ.
Dịch vị không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin và globulin được chuyển xuống ruột và vào máu. Tuy nhiên, lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cs, e 5 1986) [8]. Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng lên.
Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng. Để khắc phục tình trạng này cần tập cho lợn ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng, có tác dụng kích thích tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa: Sự phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa. * Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt Lợn con sơ sinh cơ năng điều tiết chưa ổn định do: + Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ thấp nên không có khả năng chống rét. + Hệ thần kinh điều tiết chưa hoàn chỉnh do não chưa phát triển.
+ Diện tích bề mặt cơ thể chênh lệch cao so với khối lượng nên lợn con dễ bị mất nhiệt. Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con phụ thuộc vào môi trường: Nếu nhiệt độ môi trường thấp thì thân nhiệt hạ nhanh, tuổi lợn con càng ít, tốc độ hạ thân nhiệt càng nhiều (khối lượng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng điều tiết thân nhiệt). Sau 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt lợn con tương đối hoàn chỉnh. * Đặc điểm về khả năng miễn dịch Khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể.
Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh. Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng e 6 kém. Do vậy, các mầm bệnh như E. coli, salmonella spp… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh.
Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, Profecdin và Lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém. Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều Globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh. Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều Globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 - 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên. Tuy nhiên còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng.
Việc cân bằng khu hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng. Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và điều trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết. Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn con Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa. Hiện tượng lâm sàng này xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh, được gọi với nhiều tên khác nhau: Tên chung nhất: hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia).