Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và số lượng. Con lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu đồng thời cung cấp nguồn phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi lợn quy mô trang trại theo hướng tập trung công nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả nước. Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt.
Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ là rất quan trọng. Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp. Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ. Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này.
Vì vậy, thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ hiệu quả là cần thiết. Xuất phát từ từ thực tế nêu trên, chúng em tiến hành đề tài: “Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Nguyễn Văn Tứ xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ.
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái sinh sản con và lợn con theo mẹ. - Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Nguyễn Văn Tứ. - Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. Yêu cầu của chuyên đề - Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ đồng thời học tập bổ sung những kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất.
- Ứng dụng các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ vào thực tiễn chăn nuôi lợn tại trang trại. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập 2.
Vị trí địa lý Trại lợn Nguyễn Văn Tứ nằm trên địa bàn xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang có tổng diện tích là 7. - Phía Đông giáp xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên. - Phía Tây giáp xã Danh Thắng, Thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa. - Phía Bắc giáp xã Ngọc Sơn và Việt Ngọc, huyện Hiệp Hòa.
- Phía Nam giáp xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa và xã Việt Tiến, huyện Việt Yên. Với vị trí như trên đây là điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi của trại. Khu chăn nuôi của trại được xây dựng một cách hợp lý, xung quanh trại được bao bọc bởi tường vây kín, hệ thống mương máng được lưu thông. Vì vậy việc lan truyền dịch bệnh từ trại ra, từ khu dân cư vào trại được hạn chế một cách tối đa.
Điều kiện địa hình, đất đai Trại có tổng diện tích đất tự nhiên là: 7.000 m2 được quy hoạch như sau: Diện tích đất nhà ở là 300 m2; Diện tích đất chuồng nuôi là 6000 m2; Diện tích kho chứa thức ăn, dụng cụ, bể nước là 350 m2; Diện tích chỗ chứa phân và chất thải chăn nuôi là150 m2; Còn lại là diện tích lối đi vào, đi ra khu vực chăn nuôi. Điều kiện khí hậu và thời tiết Trại nằm trên địa bàn xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một tỉnh thuộc phía Đông Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia làm 4 mùa rõ rệt: Xuân - Hạ - Thu - Đông. h 4 - Mùa Xuân: Từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch, thời tiết ấm áp có mưa phùn. Điều kiện thời tiết này rất thuận lợi cho mầm bệnh phát triển, nhất là bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa…gây bất lợi cho công tác phòng dịch bệnh.
Nhiệt độ trung bình mùa Xuân là 20o - 24oC. - Mùa Hạ: Từ tháng 4 đến tháng 6 âm lịch. Thời tiết nắng nóng, oi bức, kèm mưa lớn kéo dài. Mùa này lợn thường mắc các bệnh về đường hô hấp như ho, viêm phổi… Nhiệt độ trung bình khoảng 23 - 30oC, có khi lên tới 39 - 40oC.
- Mùa Thu: Từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch. Thời tiết mát mẻ, ôn hòa thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn. Nhiệt độ trung bình từ 25 - 29oC. - Mùa Đông: Từ tháng 10 đến tháng 12 âm lịch.
Thời tiết lạnh giá, hanh khô, bên cạnh đó lại bị ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc làm cho lợn dễ bị nhiễm lạnh gây tiêu chảy và viêm phổi, nhất là ở lợn con sau cai sữa và lợn chửa kỳ 2. Nhiệt độ trung bình của mùa này từ 12o - 19oC, thời tiết hanh khô có khi nhiệt độ giảm xuống dưới 10oC, nhiệt độ hạ thấp cũng ảnh hưởng rất lớn tới sự điều tiết thân nhiệt của cơ thể. Nhiệt độ bình quân trong năm 20o - 24oC. Tổng lượng mưa trung bình và khoảng 1600 - 1800 mm/năm, độ ẩm bình quân 70 - 80%.
Với điều kiện khí hậu như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho gia súc ở trại phát triển nhưng bên cạnh đó cũng là điều kiện để mầm bệnh phát sinh. Chính vì vậy mà việc xây dựng chuồng trại phải đảm bảo các yêu cầu như ấm về mùa Đông, mát về mùa Hè, tạo được tiểu khí hậu chuồng nuôi tốt, dụng cụ chăn nuôi đầy đủ để đảm bảo sức khỏe cho vật nuôi. Điều kiện giao thông Hệ thống giao thông thuận lợi có đường giao thông liên xã. Trại cách trung tâm Thị trấn Thắng 4 km.
Đường vào trại được bê tông hóa thuận tiện cho việc đi lại vận chuyển cám, nhập lợn, xuất lợn và vệ sinh chuồng trại.Điều kiện thủy lợi Nguồn cung cấp nước chính cho trại lấy từ giếng khoan phục vụ nước cho quá trình chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân. Nước sử dụng được bơm đầy vào bể chứa và cho lợn uống bằng nước đó. Có hệ thống ống dẫn nước, và vòi uống tự động phù hợp với từng loại lợn ở những lứa tuổi khác nhau. Quá trình thành lập và phát triển của trại lợn Nguyễn Văn Tứ 2.Quá trình thành lập và cơ sở vật chất của trang trại * Quá trình thành lập Trại lợn Nguyễn Văn Tứ là trại chăn nuôi tư nhân, trại bao gồm cả lợn nái và lợn thịt.
Trại vừa sản xuất giống để nuôi tại trại và cung cấp giống cho những trang trại, nông hộ nuôi gia công xung quanh địa bàn. Trại được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2003 tới nay hoạt động được 16 năm. * Cơ sở vật chất kỹ thuật Đối với bất cứ một cơ sở chăn nuôi nào cũng vậy. Cơ sở vật chất là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định tới sự thành công và chất lượng chăn nuôi.
Trại được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2003 với 4000 m2 và nâng cấp mở rộng diện tích chuồng trại thêm 3000 m2 năm 2018, đến nay cơ sở vật chất của trang trại tương đối đầy đủ và hoàn thiện. Hệ thống lưới điện: có hệ thống điện lưới kéo đi khắp các khu sản xuất trong trại đảm bảo cho công tác sản xuất, chăn nuôi, và sinh hoạt hàng ngày cho công nhân. Trại có một máy phát điện dùng để thay thế khi mất điện. Hệ thống thoát nước: Trại có hệ thống dẫn, thoát nước đảm bảo nước không bị ứ đọng nhất là mùa mưa.
Theo quy trình xây dựng trại gồm có 2 khu đó là khu nhà ở và khu sản xuất. Khu hành chính gồm: nhà ở chính, nhà bếp, nhà vệ sinh được quy hoạch gọn gàng và đảm bảo vệ sinh. Khu sản xuất gồm: - Một nhà kho: Dự chữ thức ăn, có các xe đẩy cám để vận chuyển cám đến các chuồng. h 6 - Hệ thống chuồng nuôi gồm có: Trại chia thành 7 chuồng nuôi lớn theo thứ tự từ cổng trại đi vào.
Chuồng đẻ số 3, chuồng bầu số 2, chuồng đẻ số 2, chuồng đẻ số 1, chuồng lợn con cai sữa, chuồng lợn thịt, chuồng bầu số 1. Cơ cấu các chuồng trong trại STT Tên chuồng Số lượng Ghi chú con 1 300 Lợn nái khi cai sữa chuyển sang phối giống Bầu số 1 đến trước 15 ngày đẻ dự kiến cộng với đực giống 2 Bầu số 2 65 Trước khi đẻ dự kiến 15 ngày (chuẩn bị đẻ) 3 28 Trước đẻ dự kiến 3 ngày đến khi lợn con Đẻ số 1 cai sữa 4 26 Trước đẻ dự kiến 3 ngày đến khi lợn con Đẻ số 2 cai sữa 5 24 Trước đẻ dự kiến 3 ngày đến khi lợn con Đẻ số 3 cai sữa 6 Lợn con cai 400 Từ khi cai sữa đến khi chuyển sang chuồng sữa thịt 7 500 Chuyển từ chuồng cai sữa sang đến lúc xuất Lợn thịt bán thịt 2. Đối tượng và các kết quả sản xuất của của trang trại. Công tác chăn nuôi Chăn nuôi lợn hiện nay là một hướng chính để phát triển ngành chăn nuôi của cả nước nói chung và trại chú Nguyễn Văn Tứ nói riêng.
Chăn nuôi lợn hiện nay đang được mở rộng theo phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp tại các trang trại có quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn xã. Do nhu cầu thị hiếu của người dân ngày càng cao nên vấn đề chăn nuôi luôn được bà con nông dân quan tâm và đẩy mạnh để tăng năng suất từ chăn h 7 nuôi lợn. Bên cạnh đó thì vấn đề chất lượng đàn lợn cũng được người dân rất chú trọng.