Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu ứng dụng đá dolomite trong xây dựng đường ô tô tại Ninh Bình

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đá dolomite trong xây dựng đường ô tô tại tỉnh Ninh Bình, góp phần phát triển hạ tầng giao thông.

Tác giả

Bùi Tiến Thành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

159
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đá Dolomite và tình hình sử dụng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Đá Dolomite là một loại đá trầm tích cacbonat, có vai trò quan trọng trong xây dựng đường ô tô. Tại Ninh Bình, đá Dolomite không chỉ phong phú về trữ lượng mà còn có chất lượng tốt, phù hợp với yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng. Việc đánh giá đá dolomite giúp xác định tính khả thi của nó trong các công trình giao thông. Đá Dolomite thường được sử dụng để làm móng và mặt đường, góp phần cải thiện chất lượng công trình. Theo nghiên cứu, đá Dolomite có khả năng chịu lực tốt, độ bền cao, và khả năng chống mài mòn tốt, điều này rất cần thiết cho các công trình giao thông. Việc sử dụng đá Dolomite không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là trong bối cảnh nguồn vật liệu truyền thống ngày càng khan hiếm.

1.1. Đặc điểm và phân bố đá Dolomite tại Ninh Bình

Đá Dolomite tại Ninh Bình có màu sắc đa dạng, từ trắng đến xám, và thường chứa nhiều khoáng vật phụ như canxit và thạch anh. Sự phân bố của đá Dolomite trên địa bàn tỉnh Ninh Bình rất phong phú, với nhiều mỏ đá lớn như Đông Sơn - Tam Điệp. Các mỏ này không nằm trong khu vực bảo tồn, cho phép khai thác để phục vụ cho xây dựng. Việc ứng dụng đá dolomite trong xây dựng đường ô tô đã được thực hiện tại một số công trình quan trọng, cho thấy tính khả thi và hiệu quả của loại vật liệu này. Đá Dolomite không chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật mà còn góp phần bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động đến các khu vực nhạy cảm như quần thể danh thắng Tràng An.

II. Nghiên cứu sử dụng đá Dolomite gia cố xi măng làm móng đường ô tô

Nghiên cứu về việc sử dụng đá Dolomite gia cố xi măng trong xây dựng đường ô tô cho thấy nhiều lợi ích. Đá Dolomite có thể được sử dụng để tạo ra hỗn hợp cấp phối đá dăm gia cố xi măng, giúp tăng cường độ bền và khả năng chịu lực của móng đường. Các thí nghiệm cho thấy rằng hỗn hợp này có cường độ chịu nén và kéo cao, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Việc đánh giá vật liệu này cho thấy đá Dolomite có thể thay thế cho các loại vật liệu truyền thống, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian thi công. Hơn nữa, việc sử dụng đá Dolomite còn giúp giảm thiểu tác động đến môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng khan hiếm.

2.1. Các chỉ tiêu kỹ thuật của hỗn hợp cấp phối đá Dolomite gia cố xi măng

Các chỉ tiêu kỹ thuật của hỗn hợp cấp phối đá Dolomite gia cố xi măng được xác định thông qua các thí nghiệm trong phòng. Kết quả cho thấy hỗn hợp này có khả năng chịu lực tốt, độ bền cao và khả năng chống mài mòn tốt. Việc nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng đá Dolomite có thể được sử dụng hiệu quả trong các công trình giao thông, đặc biệt là trong việc làm móng và mặt đường. Các chỉ tiêu như cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo và mô đun đàn hồi đều đạt yêu cầu, cho thấy tính khả thi của việc sử dụng đá Dolomite trong xây dựng đường ô tô.

III. Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng về vật liệu bê tông xi măng sử dụng cốt liệu Dolomite làm mặt đường ô tô

Việc nghiên cứu sử dụng cốt liệu Dolomite trong bê tông xi măng cho mặt đường ô tô đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Các thí nghiệm cho thấy rằng bê tông xi măng sử dụng cốt liệu Dolomite có cường độ nén và kéo cao hơn so với các loại bê tông truyền thống. Điều này chứng tỏ rằng đá dolomite không chỉ có thể sử dụng làm móng mà còn có thể áp dụng trong việc làm mặt đường, góp phần nâng cao chất lượng công trình. Hơn nữa, việc sử dụng cốt liệu Dolomite còn giúp giảm thiểu chi phí và thời gian thi công, đồng thời bảo vệ môi trường. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc sử dụng đá Dolomite trong bê tông xi măng có thể cải thiện độ bền và khả năng chống mài mòn của mặt đường.

3.1. Thiết kế thành phần cấp phối bê tông sử dụng cốt liệu Dolomite

Thiết kế thành phần cấp phối bê tông sử dụng cốt liệu Dolomite được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Các thí nghiệm cho thấy rằng việc điều chỉnh tỷ lệ cốt liệu Dolomite trong hỗn hợp bê tông có thể cải thiện đáng kể các chỉ tiêu cơ lý của bê tông. Việc ứng dụng trong xây dựng cho thấy rằng bê tông xi măng sử dụng cốt liệu Dolomite có thể đáp ứng tốt các yêu cầu về chất lượng và độ bền, đồng thời giảm thiểu chi phí sản xuất. Điều này mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng đá Dolomite trong xây dựng, giúp tiết kiệm nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁ DOLOMITE VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 1. Giới thiệu chung về đá Dolomite 1. Khái quát về đá Dolomite Dolomite là loại đá trầm tích cacbonat, thường đi với đá vôi, vì thế giữa đá vôi và đá Dolomite có nhiều dạng chuyển tiếp như đá vôi - đá vôi manhe - đá vôi Dolomite - Dolomite vôi - Dolomite.

Đá Dolomite thường có màu trắng, xám, vàng nhạt, nâu xám. khi chứa nhiều di tích hữu cơ đá có màu xám, nếu chứa bitum hay có màu nâu. Hình ảnh mỏ đá Dolomite tại Ninh Bình như Hình 1. Mỏ đá Dolomite Đông Sơn - Tam Điệp - Ninh Bình Đá Dolomite có thành phần khoáng vật Dolomite là chính, ngoài ra còn gặp canxit, nhiều khi có hàm lượng tương đối cao và còn gặp khá nhiều khoáng vật phụ như thạch cao, anhydrit, thạch anh - calcedon, oxit và hidroxit sắt, xelestin, fluorit, khoáng vật muối pirit, macazit, hydromica, momoriolit, các vật liệu hữu cơ phân tán.

Vật liệu vụn trong Dolomite rất ít gặp, không nhiều như trong đá vôi, khi thành tạo Dolomite thì kết thúc quá trình phân dị cơ học. Trong các mặt cắt địa chất có thể 4 gặp những tầng Dolomite dầy và độc lập hoặc xen kẽ với đá vôi, với đá vụn, thậm chí xen kẽ với những loại muối, thạch cao, anhydrit [21]. Sự hình thành đá Dolomite 1. Sự thành tạo các loại đá Theo nguồn gốc thành tạo, đá được chia thành 3 loại chính: đá magma, đá trầm tích và đá biến chất [22].

Đá magma được thành tạo do sự đông cứng của dòng dung nham nóng chảy phun lên từ trong lòng đất. Dòng dung nham này là các dung dịch silicat có thành phần rất phức tạp và chứa các loại khí, hơi nước khác nhau. Khi dòng dung nham phun lên và đông cứng lại ngay trong lòng đất thì sẽ tạo thành đá magma xâm nhập. Do được thành tạo trong điều kiện áp suất cao, sự đông cứng xảy ra từ từ và đều đều nên các khoáng vật dễ dàng kết tinh, tạo nên đá magma kết tinh hoàn toàn, dạng khối, chặt xít như đá granit, gabro… Khi dòng dung nham trào lên mặt đất và đông cứng lại thì sẽ tạo thành đá magma phún xuất (hay phun trào).

Do ở mặt đất nhiệt độ và áp suất thấp, nhiệt thoát nhanh nên không thuận lợi cho việc kết tinh của các khoáng vật, tạo nên đá magma ở dạng vô định hình, có nhiều lỗ rỗng như đá bazan, đá bọt… Các đá phun trào được thành tạo từ đại cổ sinh thì được gọi là đá phun trào cổ, còn nếu thành tạo mới gần đây thì được gọi là phun trào trẻ. Đá trầm tích được thành tạo có thể theo 3 cách: - Do sự lắng đọng và gắn kết của các mảnh vụn (là các sản phẩm phong hoá của đá gốc hay các vụn núi lửa); - Do sự kết tủa của chất hoá học có trong nước; - Do sự nén chặt của các di tích động, thực vật. Tuỳ theo các cách thức thành tạo như vậy mà người ta cũng chia thành các đá trầm thích cơ học, trầm tích hoá học và trầm tích hữu cơ. Đá trầm tích chỉ chiếm 5% khối lượng vỏ trái đất nhưng nó bao phủ tới 75% diện tích mặt đất với các chiều dày khác nhau (từ 3 - 4km ở vùng Trung Á, còn 1km ở vùng Xibir và chỉ từ 0,3 - 0,7km ở Thái Bình Dương).

5 Đá biến chất được tạo thành do sự biến đổi sâu sắc của đá magma, đá trầm tích và cả đá biến chất có trước dưới tác động của nhiệt độ cao, áp suất lớn và các chất có hoạt tính hoá học. Dựa vào các nhân tố tác động chủ yếu, người ta chia ra: - Biến chất tiếp xúc xảy ra ở khu vực tiếp giáp giữa khối magma nóng chảy và đá vây quanh. Nhiệt độ cao đã làm thay đổi thành phần, kiến trúc và tính chất của đất đá. Càng xa khối magma, mức độ biến chất của đá giảm dần.

- Biến chất động lực xảy ra dưới tác động của áp suất cao không chỉ do trọng lượng các lớp đá nằm trên mà còn do áp lực sinh ra trong hoạt động tạo sơn của các quá trình kiến tạo. Do vậy, đất đá bị mất nước, độ rỗng giảm đi, sự liên kết giữa chúng tăng lên làm thay đổi kiến trúc và cấu tạo của đá. - Biến chất khu vực thường xảy ra dưới sâu do tác động đồng thời của nhiệt độ cao và áp suất lớn làm thành phần, kiến trúc của đá bị thay đổi. Dolomite và một số loại đá trầm tích Do được thành tạo từ nhiều nguồn gốc khác nhau nên đá trầm tích gồm một số nhóm đá khác nhau rõ rệt, trong đó có đá Dolomite [22].

* Nhóm đá trầm tích vụn được hình thành chủ yếu từ các mảnh vỡ của các loại đá tồn tại trước đó hoặc từ các sản phẩm phong hoá của các đá gốc, được nước, gió hay băng hà vận chuyển, tích tụ rồi gắn kết lại với nhau một cách cơ học, nên loại trầm tích này cũng được gọi là trầm tích cơ học. Tuỳ theo kích thước của các mảnh vụn trong đá mà người ta chia thành các đá cuội kết, dăm kết, cát kết các loại, bột kết và sét kết. Trong các loại đá này thì độ rỗng đóng vai trò rất quan trọng. Độ rỗng sẽ nhỏ nhất khi các hạt nhỏ lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt lớn hơn hay khi trong các lỗ rỗng lấp đầy các chất gắn kết.

Tuỳ theo thành phần trong đá cát kết mà người ta còn chia thành cát kết thạch anh (khi đá được tạo thành chủ yếu từ thạch anh), arko (khi thành phần chủ yếu của đá là felspat) và grauvac (khi đá được tạo thành từ các mảnh vụn đá). Một loại cát kết đặc biệt có nguồn gốc magma được tạo thành do các mảnh vụn phun ra từ núi lửa. Những đám mây bốc lửa gồm các vật liệu vụn trôi nổi trên khí và bụi có nhiệt độ rất cao, di chuyển xuống dưới theo sườn núi lửa với tốc độ lớn, khi nguội lạnh, tuỳ theo thành phần là các mảnh vụn có góc cạnh hay các hạt 6 mịn như tro mà sẽ tạo thành dăm kết núi lửa hay tuf núi lửa. Các hạt gắn kết với nhau trong điều kiện nhiệt độ cao, tạo thành một loại đá chặt cứng, có tính chất tương tự như đá magma cùng loại.

* Nhóm đá trầm tích carbonat bao gồm đá vôi chủ yếu được tạo nên bằng khoáng vật canxit, đá Dolomite và một số đá thuộc nhóm trầm tích vụn nhưng có chứa vôi. Cũng như nhóm đá trên, độ rỗng là thuộc tính cơ bản để phân biệt đặc tính cơ học của các loại đá khác nhau trong nhóm. Người ta phân biệt độ rỗng nguyên sinh là do khi chưa lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt. Độ rỗng thứ sinh được tạo nên bởi sự mở rộng mạng tinh thể trong quá trình biến đổi canxit thành Dolomit - quá trình Dolomit hoá.

Đá vôi rất không đồng nhất về mặt cấu tạo: một số loại thì xốp, nhưng một số loại thì rất chặt. Theo nguồn gốc thành tạo, đá vôi có thể chia thành các loại đá vôi hoá học, hữu cơ, vụn và hỗn hợp. Đá vôi hoá học thường được thành tạo do sự lắng đọng các chất kết tủa carbonat ở trong nước. Điển hình của loại này là tuf vôi và đá vôi trứng cá.

Đá tuf vôi được tạo thành ở vùng có nước mạch lộ ra. Do chảy trên mặt đất, một phần CO2 bị mất đi nên CaCO3 được kết tủa lại, tạo thành đá vôi có lỗ rỗng và không phân lớp. Loại tuf vôi có độ chặt cao, độ rỗng nhỏ, có một phần kiến trúc kết tinh thì được gọi là travertin. Độ bền của tuf vôi khi khô khoảng 80MPa.

Đá vôi trứng cá được tạo thành ở biển nông do sự kết tủa các hạt CaCO3 đồng tâm, rồi chúng lại được gắn lại với nhau bằng chính canxit. Độ bền loại đá này chỉ khoảng 16 - 20MPa. Đá vôi hữu cơ được thành tạo do sự tích tụ các di tích hữu cơ, phổ biến nhất là loại đá vôi vỏ sò. Loại đá vôi này có độ rỗng cao, độ bền thấp.

Một dạng khác của đá vôi hữu cơ là đá phấn, có thành phần giống như đá vôi nhưng độ bền thì thấp hơn nhiều. Đá vôi vụn gồm những mảnh vụn của đá vôi và được gắn chặt lại bằng canxit. đây là loại đá tái trầm tích. Đá vôi hỗn hợp được thành tạo một phần từ các mảnh vụn, một phần từ các vật chất hữu cơ hay hoá học.

Phổ biến nhất là đá marn có thành phần gồm CaCO3 (từ 20 - 80%) và sét. Tuỳ theo lượng CaCO3 mà có thể có loại đá vôi sét (hay đá 7 marn vôi) khi lượng CaCO3 lớn hơn và đá marn sét khi lượng CaCO3 ít. Ở ngoài biển, đá marn tạo thành tầng dày. Khi lộ trên mặt đất, nó dễ bị phong hoá, tạo thành đá bùn.

Đá Dolomite được thành tạo từ khoáng vật cùng tên với các tạp chất như canxit, thạch cao màu xám trắng hay đỏ. Kiến trúc dạng hạt, cấu tạo khối chặt xít. Độ bền nén của Dolomit khoảng 100 - 140MPa. Dolomite được dùng làm vật liệu xây dựng, vật liệu chịu lửa.

* Nhóm đá muối: Đá của nhóm này thường gặp ở dạng halit (NaCl), silvin (KCl), silvinit (hỗn hợp của halit và silvin), anhydrit và thạch cao (CaSO4 ở dạng khan và ngậm nước) … Tất cả các đá trong nhóm đều có thể hoà tan được trong nước. Theo quan điểm địa chất, các trầm tích này cũng được gọi là trầm tích do bốc hơi hay đá bốc hơi, được thành tạo do sự bốc hơi của nước trong hồ nước mặn và biển. Các đá muối thường có màu trắng. Muối ăn (NaCl) thường có vị mặn, muối kali có vị đắng.

Các trầm tích đá muối dày tạo thành mỏ kích thước lớn. Anhydrit là CaSO4 ở dạng khan, khi gặp nước biến thành thạch cao, thể tích tăng lên tới > 30%. Độ bền nén của anhydrit khoảng 60 - 80MPa. Thạch cao được tạo thành do kết quả hợp nước của CaSO4, có màu trắng hay xám, vàng, nâu khi bị lẫn các tạp chất.

Kiến trúc hạt thô. Độ bền nhỏ hơn 20MPa. Thạch cao được dùng làm phấn, vật liệu trang trí trong xây dựng hay để bó bột trong y tế. * Nhóm đá trầm tích hữu: cơ được thành tạo do sự tích tụ và nén chặt của các di tích động thực vật.

Từ các di tích động vật sẽ tạo thành các loại đá như đá vôi vỏ sò, đá vôi san hô, đá phấn như đã trình bày trong nhóm đá trầm tích carbonat. Từ các di tích thực vật sẽ tạo thành các loại trầm tích như điatomit, opoka (đá silic), than bùn hay than đá… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá và ứng dụng đá dolomite trong xây dựng đường ô tô tại Ninh Bình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của đá dolomite trong ngành xây dựng, đặc biệt là trong việc cải thiện chất lượng và độ bền của các tuyến đường ô tô. Tác giả phân tích các đặc tính vật lý và hóa học của đá dolomite, đồng thời nêu rõ những lợi ích mà nó mang lại cho các công trình giao thông, như khả năng chịu lực tốt và khả năng chống thấm nước. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về ứng dụng của đá dolomite mà còn mở ra hướng đi mới cho các dự án xây dựng tại Ninh Bình và các khu vực lân cận.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các giải pháp xử lý nền đất yếu trong xây dựng, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu giải pháp xử lý nền đất yếu bằng cọc cát ứng dụng cho tuyến đường tránh nhà máy nhiệt điện long phú tính sóc trăng". Ngoài ra, để nâng cao chất lượng đầu tư xây dựng các công trình giao thông, bạn có thể tham khảo "Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý xây dựng nâng cao chất lượng đầu tư xây dựng các công trình giao thông trên địa bàn thành phố cam ranh tỉnh khánh hòa". Cuối cùng, để hiểu rõ hơn về quản lý chất lượng công trình xây dựng giao thông, hãy đọc bài viết "Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng giao thông tại trung tâm quản lý và khai thác công trình công cộng huyện đam rông tỉnh lâm đồng". Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực xây dựng đường ô tô.