MỞ ĐẦU Hải Phòng có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm phía bắc và vành đai hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nằm ở vùng ven biển thành phố Hải Phòng, quận Hải An có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố, bao gồm các tuyến đường bộ (điển hình là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng), đường thuỷ (với mật độ cảng lớn như cảng Chùa Vẽ, cảng Cửa Cấm, cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác), đường sắt (từ ga Lạc Viên đến cảng Chùa Vẽ) và đường hàng không (sân bay Cát Bi). Bên cạnh đó, khu vực còn có một số tài nguyên như khoáng sản và đất ngập nước (ĐNN). Các đặc điểm trên là lợi thế quan trọng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội (điển hình là các hoạt động phát triển cảng biển, khu công nghiệp ven biển, đô thị.) của quận Hải An nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung.
Bên cạnh các điều kiện thuận lợi nêu trên, khu vực quận Hải An phải chịu tác động từ các tai biến thiên nhiên như bão, lũ lụt, dâng cao mực nước biển và các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội như giao thông thuỷ, xây dựng khu công nghiệp, đô thị hoá. Các yếu tố này đã và đang làm gia tăng mức độ tổn thương (MĐTT) tài nguyên, môi trường khu vực quận Hải An, điển hình là khu vực ven biển. Dựa vào đánh giá MĐTT tài nguyên, môi trường sẽ xác định được mức độ tổn thương cho các khu vực khác nhau và là tiền đề nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, môi trường. Do đó, đề tài “Đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An - thành phố Hải Phòng nhằm định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên” được lựa chọn nghiên cứu nhằm đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An và trên cơ sở đó sẽ đề xuất định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Hoàng Văn Tuấn - Lớp Cao học Môi trường K18 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An - thành phố Hải Phòng nhằm định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Khái niệm về khả năng bị tổn thương hay tính dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đề xuất từ những năm 1970. Tính tổn thương là một khái niệm khá trừu tượng , đươ ̣c đưa ra trong rất nhiều tài liệu và chưa có tin ́ h thống nhất. Một số định nghĩa tổn thương điển hình có thể kể đến như: - Uỷ ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC, 1997): tính tổn thương là sự nhạy cảm của hệ thống tự nhiên hay xã hội do những thiệt hại lâu dài từ biến đổi khí hậu.
- Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương (The South Pacific Applied Geo-science Commission - SOPAC, 1999): tính tổn thương là khả năng ứng phó và phục hồi của hệ thống đối với các tác động của tai biến. - Cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Mỹ (National Oceanic and Atmospheric Administration - NOAA, 1999): tính tổn thương là khả năng mẫn cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội) trước những tác động tiêu cực của tai biến. - Tính tổn thương là nguy cơ mất mát của con người hoặc hệ thống tự nhiên - xã hội do tác động của tai biến thiên nhiên (Cutter, 2000). - Tính tổn thương là khả năng bị tổn thương của hệ thống tự nhiên - xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống (Kasperson, 2001).
- Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (USEPA, 2006): tính tổn thương của một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống. - Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2007) đã đưa ra khái niệm MĐTT tài nguyên, môi trường và các hệ sinh thái biển, được hiểu là mức độ ứng phó, chống Hoàng Văn Tuấn - Lớp Cao học Môi trường K18 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An - thành phố Hải Phòng nhằm định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đỡ, tổn thất và phục hồi của tài nguyên, môi trường biển và các hệ sinh thái trước các tác động từ bên ngoài (tai biến, các quá trình tự nhiên và hoạt động nhân sinh). Như vậy, theo các định nghĩa đã có trước, thì tổn thương tài nguyên, môi trường biển sẽ gồm 2 yếu tố: 1) mức độ tổn thất, suy thoái của hệ thống và 2) mức độ chống chịu (Resistance), phục hồi (Resilience), ứng phó (Coping capacity) của tài nguyên, môi trường trước các tác động; hay có thể định nghĩa: MĐTT tài nguyên, môi trường biển là mức độ tổn thất, suy thoái về tài nguyên, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó trước các tác động từ bên ngoài (tai biến và các hoạt động nhân sinh) (Kasperson, 2001, Mai Trọng Nhuận, 2007). MĐTT tài nguyên và môi trường biển được đánh giá dựa vào hệ cơ sở dữ liệu bao gồm: cường độ, mật độ, tần suất và hậu quả của các yếu tố gây tổn thương (điển hình là các tai biến); đặc điểm các yếu tố ảnh hưởng (tự nhiên, xã hội); mật độ, giá trị và khả năng ứng phó của tài nguyên, môi trường.
Lịch sử nghiên cứu a. Trên thế giới Khả năng bị tổn thương/tính tổn thương (Vulnerability) được nghiên cứu ở các qui mô khác nhau: vùng/khu vực, hệ thống tự nhiên, hệ thống xã hội, hệ thống kinh tế (Adger, 2001; Birkmann, 2006; Cutter, 1996, 2000; FAO, 2004; IPCC, 2007; NOAA, 1999, 2001; SOPAC, 1999). Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương được thực hiện trong những hoàn cảnh đa dạng như: biến đổi khí hậu, tai biến môi trường, sự biến động giá cả hàng hoá trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, khủng bố, chiến tranh (Adger, 2001; FAO, 2004; IPCC, 2007; NOAA, 1999, 2001). Cuối thế kỷ XX, các mô hình và phương pháp đánh giá tổn thương dựa trên các thông số được định lượng hoá một cách có hệ thống đã được xây dựng như qui trình và công cụ đánh giá khả năng tổn thương của NOAA (1999, 2001); phương pháp nghiên cứu khả năng bị tổn thương của Cutter (1996, 2000); phương pháp nghiên cứu khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển của IPCC (2001, 2007).
Các công trình này tập trung vào nghiên cứu xây dựng các Hoàng Văn Tuấn - Lớp Cao học Môi trường K18 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An - thành phố Hải Phòng nhằm định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên bản đồ về phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ các đối tượng dễ bị tổn thương để từ đó thành lập bản đồ đánh giá MĐTT. Đồng thời, kết quả của các công trình này đã thể hiện được tính ưu việt trong việc dự báo MĐTT do tai biến cũng như đề xuất các biện pháp giảm thiểu thiệt hại, là cơ sở quan trọng trong hoạch định chính sách quản lý và phát triển. Đặc biệt, các nghiên cứu của NOAA (1999) đã xây dựng qui trình đánh giá khả năng bị tổn thương (gồm các bước: nhận định các tai biến, phân tích tai biến, cơ sở hạ tầng, tài nguyên, kinh tế, xã hội và phân tích cơ hội giảm thiểu thiệt hại) và những ứng dụng của việc đánh giá này (qui hoạch sử dụng đất, bảo vệ tài nguyên và tăng khả năng giảm thiểu, tái phát triển và sửa chữa lại các công trình bị hư hỏng, đưa ra các chính sách đầu tư và phát triển cần được ưu tiên…). Bên cạnh đó, mô hình đánh giá khả năng bị tổn thương của Cutter (1996) được xây dựng áp dụng cho đánh giá MĐTT của hệ thống tài nguyên, môi trường.
Trong đó, khả năng bị tổn thương của hệ thống tài nguyên, môi trường có thể thay đổi theo thời gian do sự biến động của các yếu tố tai biến gây tổn thương, sự thay đổi năng lực của cộng đồng đối phó với tai biến. Mức độ thiệt hại do tai biến không chỉ phụ thuộc vào bản thân các tai biến (cường độ, qui mô, tần suất…) mà còn phụ thuộc vào đặc tính và khả năng bị tổn thương của đối tượng chịu tác động của tai biến. Mô hình này có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc phòng tránh tai biến và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xã hội theo cách tiếp cận “tiên đoán và ngăn chặn” những tác động tiêu cực của tai biến. Đến năm 2000, Cutter đã nghiên cứu và đánh giá khả năng bị tổn thương xã hội do tai biến.
Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng bị tổn thương xã hội gồm: cơ sở hạ tầng, đường thoát hiểm, khả năng ứng phó với tai biến thấp, tín ngưỡng và phong tục tập quán, thiếu thông tin, trí thức, thiếu quyền tiếp cận tài nguyên. Trong các nghiên cứu của SOPAC (2004), bộ chỉ số (gồm 50 chỉ số) về tổn thương môi trường (EVI - Environmental Vulnerability Index) đã được xây dựng tập trung vào các khía cạnh: khí hậu thay đổi, đa dạng sinh học, nước, nông nghiệp và thủy sản, sức khỏe cộng đồng, các tai biến (động đất, sóng thần,…) và hiện Hoàng Văn Tuấn - Lớp Cao học Môi trường K18 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An - thành phố Hải Phòng nhằm định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên tượng thiên nhiên (bão, lốc, cháy rừng,. Đối với từng yếu tố gây tổn thương cho môi trường đều được định lượng và đề xuất biện pháp giảm thiểu tổn thương. Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa lớn cho các nước đang phát triển, đồng thời là dữ liệu quan trọng phục vụ phát triển kinh tế bền vững tại đây.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của USGS (Mỹ) đã đánh giá khả năng tổn thương cho cả đới ven biển do dâng cao mực nước biển, trong đó đã xây dựng được chỉ số tổn thương của đới bờ (CVI - Coastal Vulnerability Index) và dựa trên đó đã thiết lập được bản đồ tổn thương cho từng khu vực.