Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sản xuất lúa gạo giữ vai trò trụ cột trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và sinh kế nông thôn tại Việt Nam. Tại xã Tùng Bá, một xã miền núi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cách trung tâm thành phố Hà Giang 14 km), cây lúa là cây lương thực truyền thống lâu đời của người dân. Tuy nhiên, hoạt động canh tác lúa tại địa phương thời kỳ 2010 - 2013 đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật và kinh tế: địa hình phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều, nguồn nước phục vụ sản xuất phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, việc đầu tư thâm canh chưa đồng bộ và tình hình sâu bệnh hại phát sinh thường xuyên. Mặc dù địa phương đã đưa nhiều giống lúa lai và lúa thuần vào gieo cấy như Nhị ưu 838, Nhị ưu 725, Việt lai 20, HT-1, Khang dân 18, song sản lượng thu được chủ yếu mới dừng lại ở mức tự cung tự cấp, chưa hình thành sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

Nhằm đánh giá thực trạng canh tác và đề xuất các giải pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, đề tài xác định rõ các mục tiêu và nhiệm vụ sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Đánh giá hiện trạng sản xuất lúa tại xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
    2. Tìm hiểu vai trò của cây lúa trong cơ cấu cây trồng và đời sống nông dân xã Tùng Bá.
    3. Xác định những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với sản xuất lúa, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng năng suất, chất lượng và thu nhập cho nông dân.
  • Yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tùng Bá.
    2. Tìm hiểu và đánh giá cơ cấu giống lúa tại địa phương.
    3. Thu thập thông tin về diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xã trong giai đoạn 2010 - 2013.
    4. Phân tích các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và xã hội ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lúa.
    5. Điều tra, phỏng vấn một số nông hộ điển hình để nắm bắt thực trạng canh tác.
    6. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng điều tra: Cây lúa nước và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản xuất lúa.
    • Phạm vi không gian: Xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, tập trung khảo sát chuyên sâu tại các thôn Hồng Tiến, Hồng Minh và Khuân Làng.
    • Phạm vi thời gian: Thu thập chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2013; công tác điều tra thực địa, phỏng vấn nông hộ được tiến hành từ ngày 09/06/2014 đến ngày 30/08/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên các cơ sở sinh học và nông học kinh điển về cây lúa (chi Oryza, loài Oryza sativa). Về mặt sinh hóa, lúa gạo cung cấp khoảng 23% năng lượng toàn cầu, cấu tạo hạt chứa khoảng 90% gluxit, 7 - 10% protein, 1 - 3% lipit cùng các vitamin nhóm B ($B_1$, $B_6$). Cơ sở lý luận về thâm canh lúa dựa trên nguyên tắc cân đối dinh dưỡng khoáng N-P-K kết hợp phân hữu cơ và quy tắc bón phân "4 đúng" (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng loại phân). Tác giả vận dụng các quan điểm nông học của Đào Thế Tuấn (1970) và Bùi Huy Đáp (1980) về vai trò của đạm đối với sự phân chia tế bào, quang hợp, cũng như vai trò của việc bón đón đòng (trước trỗ khoảng 20 ngày) nhằm giảm khối lượng rơm rạ, tăng tỷ lệ hạt chắc; đồng thời áp dụng quan điểm của Đinh Văn Lữ về hiệu ứng của phân kali trong giai đoạn làm đòng giúp cứng cây, chống đổ và tăng tính kháng sâu bệnh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa, thu thập các báo cáo thống kê định kỳ, số liệu địa chính, báo cáo kinh tế - xã hội và số liệu sản xuất nông nghiệp từ Ủy ban nhân dân xã Tùng Bá, Phòng Kinh tế huyện Vị Xuyên, Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và cơ sở dữ liệu FAOSTAT (2013).
  • Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Thiết kế phiếu điều tra nông hộ và phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân tại các thôn đại diện (Hồng Tiến, Hồng Minh, Khuân Làng) về tình hình gieo cấy, mức bón phân, kỹ thuật canh tác, tình hình sâu bệnh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Tổng hợp, phân loại số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ cơ cấu, năng suất trung bình và so sánh đối chiếu giữa các vụ, các năm và giữa các giống lúa.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày lý do chọn đề tài dựa trên vai trò chiến lược của cây lúa đối với nền kinh tế quốc dân và an ninh lương thực của hơn 80 triệu dân Việt Nam. Tác giả phân tích những mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng sản lượng lương thực với sức ép thu hẹp diện tích đất canh tác do đô thị hóa, gia tăng dân số và biến đổi khí hậu. Tại xã Tùng Bá, việc sản xuất lúa vẫn mang tính tự cung tự cấp, nông dân chưa chú trọng thâm canh, áp dụng khoa học kỹ thuật chưa đồng đều. Trên cơ sở đó, tác giả xác định 3 mục đích nghiên cứu và 6 yêu cầu cụ thể cần giải quyết trong đợt thực tập tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học về nguồn gốc và phân loại cây lúa (chi Oryza, 6 nhóm sinh thái; phân chia theo Đinh Dĩnh, Robung, Konik và Tefef Ad). Tác giả thống kê diễn biến sản xuất lúa trên thế giới từ 2006 đến 2013 (năm 2013 diện tích đạt 166,085 triệu ha, năng suất 44,867 tạ/ha, sản lượng 745,173 triệu tấn); phân tích vị thế sản xuất lúa của các quốc gia lớn (Ấn Độ diện tích lớn nhất 43,500 triệu ha; Trung Quốc sản lượng cao nhất 203,290 triệu tấn; Nhật Bản năng suất cao nhất 67,280 tạ/ha; Việt Nam diện tích 7,899 triệu ha, năng suất 55,797 tạ/ha, sản lượng 44,076 triệu tấn).

Tại Việt Nam, giai đoạn 2004 - 2013 ghi nhận năng suất tăng từ 48,55 tạ/ha lên 55,8 tạ/ha, sản lượng tăng từ 36,15 lên 44,07 triệu tấn; xuất khẩu gạo năm 2011 đạt 7,350 triệu tấn (tăng 369,7% so với năm 1995). Phần tổng quan cũng điểm lại các thành tựu chọn tạo giống của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Cây lương thực và Thực phẩm, Đại học Cần Thơ và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (giống lúa K3).

Tại tỉnh Hà Giang, diện tích lúa biến động từ 36.500 ha (2010) lên 37.300 ha (2011) và 37.000 ha (2012), năng suất đạt 54,57 tạ/ha năm 2012. Huyện Vị Xuyên giai đoạn 2011 - 2013 tăng diện tích từ 3.900 ha lên 4.300 ha, năng suất từ 55,0 lên 56,7 tạ/ha, sản lượng từ 214.500 tấn lên 243.810 tấn.

Phần 3: Nội dung và phương pháp điều tra

Tác giả xác định đối tượng là cây lúa nước, địa bàn thực hiện tại xã Tùng Bá từ ngày 09/06/2014 đến 30/08/2014. Nội dung tập trung vào: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; hiện trạng sử dụng đất; kế hoạch sản xuất chung; cơ cấu giống, diện tích, năng suất, sản lượng lúa giai đoạn 2010 - 2013; thực trạng chế độ bón phân, phòng trừ sâu bệnh bằng hóa chất và các yếu tố cản trở sản xuất lúa tại địa phương. Phương pháp chủ đạo là điều tra thu thập số liệu thứ cấp tại các cơ quan chuyên môn kết hợp điều tra phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng phiếu câu hỏi.

Phần 4: Kết quả điều tra và thảo luận

Đây là nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện hiện trạng tự nhiên, kinh tế và kỹ thuật canh tác lúa tại xã Tùng Bá:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Tùng Bá có 5 thôn bản, giáp các xã Thái An, Ngọc Đường, Minh Sơn, Yên Định và Thuận Hòa. Địa hình chia thành 2 dạng: đồi trung bình xen bãi bằng (chiếm 89% diện tích, độ dốc 10 - 25°) và đồi núi thấp xen bãi bằng phẳng (chiếm 11%, độ dốc 0 - 10°). Tổng diện tích tự nhiên gồm 1.150 ha đất nông nghiệp (72,97%), 270,03 ha đất phi nông nghiệp (17,13%) và 155,7 ha đất chưa sử dụng (9,9%). Đất trồng lúa có 745 ha. Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 22,7°C; lượng mưa trung bình năm 1.700 - 1.800 mm (tập trung 85% vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10); độ ẩm trung bình 80%; gió chủ đạo hướng Đông Bắc. Toàn xã có 1.383 hộ (1.343 hộ nông nghiệp, chiếm 97,11%), 7.012 nhân khẩu, 5.680 lao động (4.580 lao động nông nghiệp, chiếm 80,63%). Đất nông nghiệp bình quân đạt 0,38 ha/hộ; thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 7,5 triệu đồng/năm. Hệ thống thủy nông gồm 2 công trình đầu mối tại thôn Khuân Làng và thôn Nậm Rịa với 136 km mương, tưới cho 476,8 ha ruộng 1 vụ và 280 ha ruộng 2 vụ.

  • Tình hình sản xuất nông nghiệp chung: Trong nhóm cây hàng năm giai đoạn 2010 - 2013, lúa chiếm ưu thế tuyệt đối về diện tích (tăng từ 656 ha năm 2010 lên 745 ha năm 2013) và sản lượng (tăng từ 3.673,6 tấn lên 4.327,7 tấn). Các cây trồng khác năm 2013 gồm: ngô (102 ha, năng suất 31 tạ/ha, sản lượng 316,2 tấn), sắn (15 ha, năng suất 11 tạ/ha, sản lượng 165 tấn), đậu đỗ (2,25 ha), khoai các loại (1,5 ha) và lạc (2,5 ha). Chăn nuôi năm 2013 đạt 2.237 con trâu, 171 con bò, 7.650 con lợn và hơn 20.250 con gia cầm.

Chỉ tiêu cây hàng năm (năm 2013) Cây lúa Cây ngô Cây sắn Đậu đỗ Cây lạc Khoai các loại
Diện tích (ha) 745 102 15 2,25 2,5 1,5
Năng suất (tạ/ha) 58,09 31,00 11,00 9,00 11,00 6,50
Sản lượng (tấn) 4.327,7 316,2 165,0 20,25 27,5 9,75
  • Tình hình sản xuất lúa qua các vụ (2010 - 2013): Diện tích vụ mùa luôn cao hơn vụ xuân do vụ mùa mưa nhiều, đảm bảo nước tưới để gieo cấy hết diện tích bỏ hóa. Vụ xuân 2013 diện tích giảm xuống 280 ha do khô hạn kéo dài, trong khi vụ mùa 2013 đạt 465 ha. Năng suất bình quân toàn xã tăng nhẹ từ 57,35 tạ/ha (2010) lên 58,09 tạ/ha (2013).
Năm Vụ lúa Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
2010 Xuân 270 57,50 1.552,5
Mùa 386 57,20 2.207,9
2011 Xuân 302 58,00 1.751,6
Mùa 368 57,00 2.097,6
2012 Xuân 331 58,00 1.919,8
Mùa 386 57,60 2.188,8
2013 Xuân 280 58,18 1.629,0
Mùa 465 58,00 2.697,0
  • Cơ cấu giống lúa và chế độ canh tác: Năm 2013, giống lúa lai Nhị ưu 838 giữ vai trò chủ lực, chiếm 55% diện tích vụ xuân (154 ha, năng suất 60,4 tạ/ha) và 45,16% diện tích vụ mùa (210 ha, năng suất 60,0 tạ/ha). Các giống khác gồm Nhị ưu 725, Việt lai 20, Khang dân 18, HT-1 (chỉ cấy vụ xuân 12 ha) và giống Nếp. Về mức bón phân tính cho 1 ha (trung bình toàn xã), vụ xuân sử dụng 6,17 tấn phân chuồng, 175 kg đạm (58 kg bón lót, 116 kg thúc đẻ), 466,7 kg lân (100% bón lót), 153,3 kg kali (88,3 kg thúc đẻ, 65 kg đón đòng); vụ mùa sử dụng 5,33 tấn phân chuồng, 168,3 kg đạm, 416,7 kg lân và 153,3 kg kali. Tác giả chỉ ra nhược điểm là lượng phân chuồng còn thấp, nông dân còn bón mất cân đối, chuộng đạm và lân, chưa chú trọng đúng mức phân kali và bón đón đòng.
Tên giống lúa Vụ xuân 2013 Vụ mùa 2013
Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha)
Nhị ưu 838 154 60,40 210 60,00
Nhị ưu 725 18 60,10 102 60,00
Việt lai 20 24 60,00 83 59,00
Khang dân 18 14 57,00 34 56,00
HT-1 12 56,00 - -
Lúa Nếp 16 55,60 36 55,00
  • Khảo sát tại 3 thôn điển hình: Tại thôn Hồng Tiến, Hồng Minh và Khuân Làng vụ xuân 2013, năng suất bình quân lần lượt đạt 57,33 tạ/ha, 58,05 tạ/ha và 57,73 tạ/ha. Vụ mùa 2013 đạt lần lượt 56,4 tạ/ha, 56,8 tạ/ha và 56,0 tạ/ha. Các giống lúa lai luôn cho năng suất cao hơn các giống lúa thuần địa phương từ 3 - 5 tạ/ha.
  • Sâu bệnh hại và sử dụng thuốc BVTV: Cả 2 vụ đều ghi nhận sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu, bệnh đạo ôn và bệnh khô vằn; trong đó lúa lai nhiễm sâu bệnh nặng hơn lúa thuần. Các thuốc trừ sâu được dùng gồm: Padan 0,5SP (sâu đục thân, cuốn lá, đục nõn), Ophatoc 400EC (cuốn lá nhỏ, cắn gié), Bassa 40EC (rầy nâu, rầy lưng trắng), Fastas (bọ xít dài, cắn gié). Thuốc trừ bệnh gồm: Hinosan 40EC (đạo ôn), Validacin (khô vằn), Anvil 55C (đen lép hạt), Kassai 21,2WP (đạo ôn). Tác giả ghi nhận người dân phun thuốc định kỳ, nhiều hộ phun nồng độ cao hơn khuyến cáo. Về kỹ thuật làm đất, 80% diện tích đã được cày bừa bằng máy; 60% hộ dùng phân chuồng bón ruộng, số còn lại bón lót bằng phân NPK.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết lại các chỉ số đạt được của cây lúa xã Tùng Bá, khẳng định vai trò quyết định của giống lúa lai Nhị ưu 838 và việc áp dụng phân bón, đồng thời đưa ra các đề xuất về quy hoạch thủy lợi, nâng cao năng lực khuyến nông và điều chỉnh cơ cấu mùa vụ.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả cụ thể bằng số liệu:

    • Sản xuất lúa tại xã Tùng Bá giai đoạn 2010 - 2013 tăng trưởng cả về diện tích gieo trồng (từ 656 ha lên 745 ha), năng suất bình quân (từ 56,0 tạ/ha lên 58,09 tạ/ha) và tổng sản lượng (từ 3.673,6 tấn lên 4.327,7 tấn).
    • Khẳng định được cơ cấu giống lúa lai (Nhị ưu 838, Nhị ưu 725, Việt lai 20) cho năng suất vượt trội (đạt từ 59,0 - 60,4 tạ/ha), cao hơn hẳn các giống lúa thuần như Khang dân 18, HT-1, Nếp (chỉ đạt 55,0 - 57,0 tạ/ha). Riêng Nhị ưu 838 chiếm trên 45 - 55% tổng diện tích gieo cấy toàn xã.
    • Lượng hóa được mức đầu tư phân bón thực tế của nông dân: trung bình 5,33 - 6,17 tấn phân chuồng/ha; mức bón đạm nguyên chất dao động 168,3 - 175 kg/ha; lân 416,7 - 466,7 kg/ha; kali 153,3 kg/ha. Ghi nhận 80% diện tích đã cơ giới hóa khâu làm đất và 60% số hộ duy trì bón lót bằng phân chuồng.
    • Ghi nhận danh mục 8 loại hóa chất bảo vệ thực vật đặc thù đang được lưu hành và sử dụng phổ biến tại địa bàn xã Tùng Bá để phòng trừ 5 đối tượng dịch hại chính.
  • Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

    • Tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật, tập huấn hướng dẫn nông dân bón phân cân đối N-P-K theo nguyên tắc "4 đúng", khắc phục tình trạng bón thừa đạm, thiếu kali và bỏ qua khâu bón đón đòng.
    • Quy hoạch và kiên cố hóa hệ thống kênh mương thủy lợi, ưu tiên phân bổ nguồn nước cho 476,8 ha ruộng 1 vụ nhằm mở rộng diện tích cấy lúa vụ xuân.
    • Chuyển đổi dần cơ cấu giống, tiếp tục duy trì diện tích lúa lai có năng suất cao song song với việc phục tráng các giống lúa đặc sản bản địa để nâng cao giá trị kinh tế.
    • Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật cơ sở nhằm thực hiện tốt công tác dự tính, dự báo sâu bệnh hại; hướng dẫn nông dân áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM, chấm dứt việc phun thuốc bảo vệ thực vật tràn lan theo định kỳ và dùng thuốc sai nồng độ.
  • Đóng góp của khóa luận: Cung cấp hệ thống số liệu điều tra thực địa có độ tin cậy về thực trạng sản xuất lúa nước tại một xã vùng cao cụ thể của tỉnh Hà Giang giai đoạn 2010 - 2013. Kết quả khảo sát làm rõ mối tương quan giữa điều kiện vi khí hậu, nguồn nước và tập quán canh tác nông hộ đến năng suất thực tế của từng giống lúa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận chỉ thực hiện điều tra hồi cứu số liệu thứ cấp và phỏng vấn chọn mẫu nông hộ trong thời gian ngắn (gần 3 tháng, từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2014); chưa bố trí được các ô thí nghiệm đồng ruộng có đối chứng để kiểm chứng ảnh hưởng của các công thức phân bón hay các biện pháp kỹ thuật cụ thể. Khảo sát nông hộ chỉ tập trung tại 3 thôn (Hồng Tiến, Hồng Minh, Khuân Làng), chưa bao quát chi tiết toàn bộ 5 thôn của xã. Khóa luận chưa hạch toán chi tiết hiệu quả kinh tế (chi phí vật tư, ngày công lao động, lãi thuần) trên 1 ha canh tác của từng giống lúa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm các tổ hợp giống lúa mới có khả năng chịu rét trong vụ xuân, chịu hạn và chống chịu sâu bệnh tốt phù hợp với chân đất ruộng bậc thang; triển khai các mô hình khảo nghiệm phân bón chuyên dùng khép kín và đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái lâu dài của hệ thống luân canh 2 lúa - 1 màu tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Trồng trọt, Nông học, Khuyến nông và Phát triển nông thôn khi thực hiện đề tài điều tra hiện trạng nông nghiệp tại các địa bàn miền núi phía Bắc.
  • Cán bộ khuyến nông cơ sở, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Vị Xuyên, UBND xã Tùng Bá trong việc xây dựng kế hoạch cơ cấu giống mùa vụ, quy hoạch sử dụng đất lúa và điều phối lịch thời vụ hàng năm.
  • Phần đáng tham khảo nhất là chuỗi số liệu chi tiết về định mức phân bón thực tế cho từng giống lúa (Bảng 4.7), cơ cấu diện tích - năng suất vụ xuân, vụ mùa (Bảng 4.6, 4.8, 4.9) và danh mục thuốc hóa học phòng trừ dịch hại lúa (Bảng 4.11).

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 2010 - 2013, diện tích và sản lượng lúa của xã Tùng Bá biến động như thế nào?
Diện tích gieo trồng lúa của xã tăng liên tục từ 656 ha (năm 2010) lên 670 ha (2011), 679 ha (2012) và đạt 745 ha (năm 2013), tức tăng thêm 89 ha. Sản lượng lúa tương ứng tăng từ 3.673,6 tấn (2010) lên 3.819,0 tấn (2011), 4.028,6 tấn (2012) và đạt 4.327,7 tấn (2013), tăng 654,1 tấn nhờ mở rộng diện tích vụ mùa và tăng cường thâm canh.

2. Giống lúa nào chiếm tỷ lệ diện tích cao nhất tại xã Tùng Bá năm 2013 và năng suất đạt bao nhiêu?
Giống lúa lai Nhị ưu 838 chiếm tỷ lệ cao nhất trong cả 2 vụ: vụ xuân chiếm 55% diện tích (154 ha / 280 ha), đạt năng suất trung bình 60,4 tạ/ha; vụ mùa chiếm 45,16% diện tích (210 ha / 465 ha), đạt năng suất trung bình 60,0 tạ/ha.

3. Mức sử dụng phân bón trung bình cho 1 ha lúa tại xã Tùng Bá năm 2013 được ghi nhận ra sao?
Vụ xuân trung bình toàn xã bón: 6,17 tấn phân chuồng (100% bón lót), 175 kg đạm (58 kg lót, 116 kg thúc đẻ), 466,7 kg lân (100% bón lót), 153,3 kg kali (88,3 kg thúc đẻ, 65 kg bón đón đòng). Vụ mùa bón: 5,33 tấn phân chuồng, 168,3 kg đạm (56 kg lót, 112,3 kg thúc đẻ), 416,7 kg lân (100% bón lót) và 153,3 kg kali (88,3 kg thúc đẻ, 65 kg bón đón đòng).

4. Mức độ nhiễm sâu bệnh giữa các giống lúa lai và lúa thuần tại địa phương có sự khác biệt như thế nào?
Số liệu khảo sát năm 2013 cho thấy các giống lúa lai (Nhị ưu 838, Nhị ưu 725, Việt lai 20) có mức độ nhiễm sâu bệnh hại (sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn) nặng hơn các giống lúa thuần địa phương (Khang dân 18, HT-1, Nếp), do các giống thuần có tính thích nghi sinh thái cao hơn đối với điều kiện thời tiết địa phương.

5. Địa phương đã ghi nhận những loại thuốc bảo vệ thực vật nào được sử dụng để phòng trừ sâu bệnh trên lúa?
Thuốc trừ sâu gồm 4 loại: Padan 0,5SP, Ophatoc 400EC, Bassa 40EC, Fastas. Thuốc trừ bệnh gồm 4 loại: Hinosan 40EC, Validacin, Anvil 55C và Kassai 21,2WP.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nông Thị Hải đã phản ánh chân thực bức tranh sản xuất lúa nước tại xã miền núi Tùng Bá giai đoạn 2010 - 2013 thông qua hệ thống dữ liệu điều tra thực tế. Nghiên cứu khẳng định sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tăng tỷ trọng giống lúa lai cao sản đã nâng cao đáng kể năng suất và tổng sản lượng lương thực địa phương. Đồng thời, công trình cũng chỉ rõ những điểm nghẽn về hạ tầng thủy lợi, tập quán bón phân mất cân đối và việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật, làm cơ sở khoa học để chính quyền xã Tùng Bá điều chỉnh các giải pháp kỹ thuật nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo.