ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề thiết của đề tài Nông nghiệp chiếm một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, trong đó lúa là một trong 3 cây lương thực chủ yếu trên thế giới đó là: lúa mì, lúa và ngô. Lúa là cây lương thực chính cho hơn một nửa số dân trên thế giới, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân dân, ổn định xã hội và là nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế. Lúa gạo là lương thực chủ yếu của các nước ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới như: Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ la tinh, lúa gạo cung cấp 23% năng lượng cho con người.
Tinh bột trong lúa gạo là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, thành phần dinh dưỡng trong lúa gạo chiếm khoảng 90% gluxit và 1- 3% lipit, 7 – 10 % prôtêin. Tuy nhiên prôtêin tập trung ở phôi và cám, ngoài ra trong lúa gạo còn có chứa các vitamin nhóm B, B1, B6. Ngoài việc sử dụng làm lương thực cây lúa còn có vai trò khác như: sử dụng làm nguồn thức ăn cho chăn nuôi, công nghiệp chế biến, sản xuất nấm, y học, dược học. Lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ quốc gia như Việt Nam, Thái Lan… Cây lúa ở Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Lúa giúp Việt Nam thoát khỏi đói nghèo, đảm bảo chiến lược an ninh lương thực hơn 80 triệu dân và từng bước tăng nhanh về sản lượng gạo xuất khẩu. Việt Nam là nước có nền nông nghiệp từ lâu đời, nên có điều kiện tự nhiên thuận lợi để trồng lúa. Nền văn hóa Việt Nam gắn liền với “nền văn minh lúa nước”, người nông dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất cộng thêm tính chăm chỉ, sự năng động nhạy bén, đồng thời do ta đã biết áp dụng nhiều những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất: Phân bón, giống, n 2 BVTV, thủy lợi, cơ cáu mùa vụ…đã dần đưa nền nông nghiệp nước ta ngày càng đạt được nhiều thành tựu, đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất lúa gạo (sau Thái Lan). Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và thành tựu đã đạt được, tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, chúng ta đang đứng trước rất nhiều khó khăn đó là: sự tăng nhanh về dân số và quá trình công nghiệp hóa cùng với các điều kiện bất lợi khác của thiên nhiên như: Hạn hán, bão lụt, sâu bệnh…đã làm giảm đáng kể diện tích đất canh tác và ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp.
Vì vậy đây vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa là động lực thúc đẩy ngành nông nghiệp, các nhà khoa học, các cơ quan quản lý vv…phải có các giải pháp đồng bộ để đưa ngành nông nghiệp của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung ngày một ổn định và phát triển bền vững. Do đó việc điều tra, khảo sát thực trạng tình hình sản xuất lúa là rất cần thiết. Trên cơ sở đó các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý, quy hoạch sẽ đưa ra những giống lúa và các biện pháp kỹ thuật phù hợp làm tăng năng suất và sản lượng. Tùng Bá là một xã thuộc huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, cách trung tâm thành phố Hà Giang 14 km, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, cây lúa là cây lương thực được trồng lâu đời tại đây.
Hiện nay nhân dân trên địa bàn xã Tùng Bá đang trồng nhiều loại giống lúa khác nhau nhị ưu 838, nhị ưu 725, việt lai 20, HT - 1, khang dân 18, lúa nếp…Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã được phổ biến nhưng chưa rộng rãi, nhân dân chưa chú trọng vào thâm canh cho lúa, phòng trừ sâu bệnh hại chưa kịp thời. Mặc dù điều kiện tự nhiên xã hội khá thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt là cây lúa, nhưng sản lượng lúa mới chỉ giải quyết được vấn đề lương thực đơn thuần, chưa đáp ứng được nhu cầu về kinh tế. Vì vậy việc tìm ra những giống lúa có năng suất cao và biện pháp canh tác kỹ thuật phù n 3 hợp với đặc điểm đất đai, điều kiện sinh thái của địa phương góp phần xây dựng một hệ thống trồng trọt chung, cây lúa nói riêng là việc cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao năng suất lúa cho địa phương, phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy trong quá trình thực tập tốt nghiệp, tôi đã tiến hành làm đề tài “Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất lúa tại xã Tùng Bá huyện Vị xuyên tỉnh Hà Giang trong giai đoạn từ năm 2010 – 2013”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích: + Đánh giá hiện trạng sản xuất lúa tại xã Tùng Bá huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang. + Tìm hiểu vai trò của cây lúa trong cơ cấu trồng và trong đời sống nông dân xã Tùng Bá.
+ Xác định những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sản xuất lúa tại xã Tùng Bá huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang từ đó đưa ra các giải pháp mới nhằm tăng năng suất, chất lượng và giúp cho nông dân nâng cao thu nhập trong sản xuất lúa.Yêu cầu của đề tài: + Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội của xã Tùng Bá. + Tìm hiểu về cơ cấu giống. + Thu thập các thông tin về tình hình sản xuất lúa tại xã Tùng Bá huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang từ 2010 – 2013 (diện tích, năng suất, sản lượng). + Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lúa và năng suất lúa tại xã Tùng Bá huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang.
+ Điều tra phỏng vấn một số hộ nông dân điển hình để tìm hiểu thực trạng sản xuất lúa tại địa phương. n 4 + Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lúa tại xã Tùng Bá. Cơ sở lý luận của đề tài. Nền nông nghiệp của mỗi nước đều chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên khí hậu, đất đai, địa hình, trình độ canh tác, giống cây trồng và tốc độ phát triển của nước đó.
Trên con đường phát triển nông nghiệp, nhất là giai đoạn hiện nay, nhiều quốc gia dã có những nghiên cứu và ứng dụng thành công đối với những giống cây trồng, vật nuôi và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng nông sản phẩm, đó là cơ sở cho một phần phát triển kinh tế của đất nước. Nghiên cứu và phát triển cây trồng nhằm tăng năng suất, sản lượng lương thực và tiết kiệm đầu tư, đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực, nhất là nước ta có tới xấp xỉ 80% dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, đáp ứng các nhu cầu khác của nền sản xuất công nghiệp cũng như đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng thu nhập của nước ta. Trong cơ cấu cây lương thực thì lúa là cây trồng được người dân đặc biệt coi trọng. Tuy nhiên với một xã miền núi như xã Tùng Bá hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển cây lúa.
Đời sống nhân dân còn nghèo, trình độ dân trí còn thấp, không đồng đều, nên việc chuyển tải những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, cũng như việc đầu tư về giống, phân bón còn bị hạn chế, chưa có các biện pháp kỹ thuật cải tạo đất. Mặt khác đất đai địa hình không đồng đều, nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp một phần còn phụ thuộc vào nước trời, việc thâm canh tăng vụ chưa được phổ biến rộng rãi, đất đai còn bị bỏ hóa…Nên đất đai ngày càng xấu đi và bị xói mòn rửa trôi. n 5 Vì vậy, việc đánh giá tình hình sản xuất lúa cho mỗi vùng, mỗi khu vực nói chung và các xã trong huyện Vị Xuyên nói riêng cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, tập quán canh tác. Ngoài ra, còn phải quan tâm đến phương thức sản xuất ở từng vùng, điều kiện kinh tế đầu tư cho sản xuất, đó cũng là yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng.
Vì vậy, vấn đề quan trọng trong sản xuất lúa là phải xác định được khí hậu, đất đai, giống, điều kiện chăm sóc và đầu tư thâm canh cây lúa cho thực sự phù hợp để đạt năng suất cao và mang lại hiệu quả lớn cho người trồng lúa. n 6 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu: 2. Nguồn gốc cây lúa.
Lúa thuộc loài Oryza Sativa có cách đây ít nhất 103 triệu năm và tồn tại như một loại cỏ dại tại Châu á, châu Phi, Châu Mỹ, châu Úc và châu Nam Cực. Lúa trồng Oryza sativa đã được thuần hóa vào khoảng 10 nghìn năm trước. Lúa được coi là loại lương thực nuôi sống loài người lâu đời hơn bất cứ loại cây nào. Những dấu vết của hạt gạo và vỏ trấu của loại Oryza sativa trên mảnh đồ gấm vỡ được khám phá tại Nonoktha ở vùng Karut của Thái Lan cũng chứng tỏ lúa có từ 4000 năm trước công nguyên (Tay Maclean 1985).
Căn cứ vào tài liệu cổ Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…thì cây lúa có mặt từ 2000 – 3000 năm TCN, ở vùng Triết Giang – Trung Quốc đã xuất hiện cây lúa 5000 năm ở hạ lưu sông Dương Hà 4000 năm. Tuy nhiên vẫn còn thiếu các tài liệu để xác định một cách chính xác thời gian cây lúa được đưa vào trồng trọt.[3] Từ trung tâm khởi nguồn là Ấn Độ và Trung Quốc, cây lúa được phát triển cả về 2 hướng Đông và Tây cho đến hết thời kỳ thứ nhất, cây lúa được đưa vào vùng Địa Trung Hải như: Ai Cập, Italia, Tây Ban Nha, đến đầu thế kỷ XV thì cây lúa từ Bắc Italia nhập vào các nước Đông Âu như: Nam Tư cũ, Bungari, Rumani…đến thế kỷ XVII cây lúa được nhập vào Mỹ và được trồng ở các bang, Virginnia, Nam caronila và được trồng nhiều ở Califoclia, lonisicana… Ở Việt Nam lúa được trồng từ hàng nghìn năm trước đây và được coi là biểu tượng của nền văn minh lúa nước. Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ là một trong n 7 những vùng sinh thái của các nước có các nguồn gen đa dạng và phong phú (Bùi Huy Đáp, 1990).