Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lí luận của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 1. Khái niệm đất đai, vai trò của đất đất đai đối với sự phát triển kinh tế xã hội * Khái niệm về đất đai Theo FAO [28]: Đất (hay còn gọi là soil hoặc thổ nhưỡng (là phần tơi xốp của ớp vỏ trái đất mà trên đó có các hoạt động của sinh vật) Độ dày thường được quy định từ 120-150 cm kề từ lớp đất mặt.
Ở những nơi có tầng đất mỏng thì được tính từ lớp đá mẹ hay tầng cứng rắn mà rễ cây không thể xuyên qua được trở lên, có khi chỉ 10-20 cm. Có một số loại đất chủ yếu như: Đất phù sa (Fluvisols), đất đỏ (Ferrasols), đất xám (Acrisols). Khái niệm về đất V. Đôcutraiep (1846-1903) người Nga cho rằng: Đất là tầng ngoài của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác dụng tổng hợp của nhiều yếu tố.
Theo Đôcutraiep: Đất trên bề mặt lục địa là một vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố: Sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương. Đất đai là một từ ghép gồm đất và đai. Đai là vành đai xung quanh khu đất, thửa đất, nó chỉ phạm vi ranh giới cụ thể của đất. Đất đai chỉ một khu đất, thửa đất cụ thể không phải là đất chung chung hoặc đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông lâm nghiệp * Vai trò của đất: 1- Xét trên khía cạnh chính trị: Đất đai là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, nói đến chủ quyền của quốc gia người ta nghĩ đến những bộ phận cấu thành bao gồm: vùng trời, vùng biển và đất liền.
Xác định quy mô, diện tích, ranh giới đất đai của một đất nước tức là xác định độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền của quốc gia đó. 6 2- Về mặt tự nhiên: Đất đai là sản phẩm của tự nhiên xuất hiện trước lao động, là điều kiện chung của lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nếu không có đất đai sẽ không có bất kỳ một ngành sản xuất nào và sẽ không có sự tồn tại của loài người. Vì vậy đất đai là điều kiện ban đầu để đảm bảo cho sự sống của các loài động, thực vật và con người trên trái đất.
3- Về mặt kinh tế - xã hội 3. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội. Các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, các làng mạc, các thành phố, các công trình công nghiệp, công trình xây dựng. gắn liền với đất đai và được xác định tại một địa điểm vị trí xác định.
Đất đai còn là nguyên vật liệu cho một số ngành công nghiệp xây dựng như: sản xuất gạch ngói, xi măng. hay khai thác các vật liệu đơn thuần cho xây dựng như: vôi, cát, sỏi. Đất đai kết hợp với các điều kiện tự nhiên khác như khí hậu, thuỷ văn, địa hình. trở thành một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên các vùng kinh tế - sinh thái, tạo nên những đặc điểm, lợi thế riêng cho từng vùng.
Dựa vào những đặc điểm đó cần xây dựng các chiến lược nhằm khai thác hợp lý và hiệu quả các lợi thế. Nước ta hiện nay chia làm chia làm 8 vùng kinh tế sinh thái trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Vùng Đông Bắc Bộ; Tây Bắc Bộ; khu bốn cũ (Bắc Trung Bộ); Duyên Hải miền Trung (Nam Trung Bộ); Tây nguyên; Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội. Tuy vậy đối với từng ngành cụ thể của nền kinh tế quốc dân, đất đai lại có vị trí khác nhau.
Đối với ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp) đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng nó không chỉ là chỗ đứng chỗ dựa để lao động mà đất đai còn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng, phát triển. Đất đai vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động: là tư liệu lao động, con người lợi dụng các tính chất cơ lý hoá của đất tác động lên cây 7 trồng nhằm tạo ra sản phẩm nuôi sống bản thân. Là đối tượng lao động, con người cùng với kinh nghiệm và khả năng lao động của mình kết hợp với các công cụ lao động thích hợp cải tạo làm tăng độ mầu mỡ, phì nhiêu của đất đai. Đối với các ngành công nghiệp, xây dựng đất đai đóng vai trò là chỗ đứng, chỗ dựa cho sản xuất là địa điểm để xây dựng các công trình * Phân loại đất: Theo quy định tại Luật đất đai năm 2003 [10] và Luật đất đai 2013 [11], đất đai được phân thành ba nhóm như sau: -Nhóm đất nông nghiệp, - Nhóm đất phi nông nghiệp, - Nhóm đất chưa sử dụng.
Tuy nhiên, Luật đất đai năm 2013 quy định chi tiết cụ thể từng loại đất trong các nhóm trên cụ thể: - Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; - Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đất xây dựng trụ sở cơ quan; Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; 8 Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở; - Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng. Quản lý nhà nước về đất đai * Khái niệm: Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có. Bộ luật Dân sự quy định “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiêm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật “.
Từ khi Luật đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản dân sự đặc biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài sản dân sự đặc biệt. Vì vậy khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở hữu nhà nước về đất đai bao gồm: quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai. Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử 9 dụng đất đai. Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước.
Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm 15 nội dung đã quy định ở Điều 22, Luật Đất đai 2013 [11]. Quản lý nhà nước về đất đai nhằm mục đích: Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia; Tăng cường hiệu quả sử dụng đất; Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường.