Đặt vấn đề Trong chiến lƣợc phát triển chăn nuôi, nƣớc ta sẽ hƣớng tới sự tập trung công nghiệp, sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã đƣợc Chính phủ giao cho xây dựng chiến lƣợc phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 nhằ m các mục tiêu: Các sản phẩm của ngành chăn nuôi phải đáp ứng đƣợc nhu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm cho ngƣời tiêu dùng và đảm bảo vệ sinh môi trƣờng. Nhƣ vậy, việc giám sát quy trình sản xuất từ đầu vào của chăn nuôi tới thành phẩm cho ngƣời tiêu dùng đòi hỏi phải chặt chẽ theo chuỗi sản xuất giá trị hang hóa và tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy định và vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong chăn nuôi, lợn là đối tƣợng vật nuôi chiếm số lƣợng và tỷ trọng cao nhất, các sản phẩm từ thịt lợn cũng là mặt hàng chính trên thị trƣờng buôn bán do nhu cầu tiêu thụ của ngƣời dân cao.
Do đó, bất cứ yếu tố nào nguy hiểm có hại nhƣ dịch bệnh đều ảnh hƣởng xấu đến giá trị sản phẩm, giá cả thị trƣờng, làm giảm hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi nói chung. Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại ở nƣớc ta ngày càng phổ biến và đạt hiệu quả kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, khó khăn gặp phải trong chăn nuôi chính là vấn đề dịch bệnh. Nó đã, đang và sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi.
Một số bệnh thƣờng gặp nhƣ: Bệnh viêm tử cung, đẻ khó, sót nhau, tiêu chảy, phân trắng lợn con. Trong chăn nuôi lợn tập trung, bệnh lây lan mạnh, lại thƣờng xuyên gặp, gây ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi, tỷ lệ chết cao, giảm khả năng tăng trọng của đàn lợn. Nếu không điều trị kịp thời thì lợn nái có thể kế phát viêm vú, mất sữa.và lợn con bị gầy yếu, có thể chết. n 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất em tiến hành nội dung đề tài: “Đánh giá tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Đánh giá đƣợc tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Bình Minh, huyện Mỹ Đức,Thành phố Hà Nội. - Đề xuất đƣợc các biện pháp điều trị hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. Yêu cầu của đề tài - Vận dụng đƣợc những kiến thức đã học vào thực tế chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ.
- Học tập và tích lũy những kiến thức mới từ thục tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi. - Từ kết quả đánh giá tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ, đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại các trại chăn nuôi lợn tại địa phƣơng. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên của cơ sở nơi thực tập 2. Vị trí địa lý Xã Phù Lƣu Tế là một xã nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam. Xã Phù Lƣu Tế có địa giới hành chính nhƣ sau: - Phía Tây giáp xã Xuy Xá. - Phía Nam giáp thị trấn Đại Nghĩa.
- Phía Bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa. - Phía Đông giáp xã Phùng Xá. Điều kiện khí hậu, thủy văn - Khí hậu: Xã Phù Lƣu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa. - Lƣợng mƣa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, lƣợng mƣa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm.
- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%. - Nhiệt độ trung bình trong năm là 210C đến 230C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7. Do ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm. - Về chế độ gió: Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau.
Điều kiện địa hình đất đai - Là vùng huyện bán sơn địa, nằm ở phía nam của đồng bằng Bắc Bộ. phía nam là vùng núi đá vôi hang động Karst, có khu thắng cảnh chùa Hƣơng. Huyện n 4 còn có hồ nƣớc lớn là hồ Quan Sơn, nằm trên địa phận xã Hợp Tiến. Ở rìa phía đông có sông Đáy chảy theo hƣớng từ Bắc xuống Nam sang tỉnh Hà Nam.
- Diện tích tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 226,913 km² (sau khi điều chỉnh diện tích với tỉnh Hòa Bình). Điều kiện giao thông - Về đƣờng bộ: Có quốc lộ 21B chạy từ Hà Đông qua thị trấn Đại Nghĩa (Tế Tiêu cũ) sang tỉnh Hà Nam. - Về đƣờng sông: Có sông Đáy (sông Thanh Hà). Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh 2.
Quá trình thành lập Trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lƣu Tế, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Trại đƣợc thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phƣơng thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đƣa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại.
Cơ sở vật chất của trại Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Trong khu chăn nuôi đƣợc quy hoạch bố trí xây dựng nhƣ sau - Hệ thống chuồng trại cho 5400 lợn thịt bao gồm: 9 chuồng, mỗi chuồng có 9 ô, 8 ô kích thƣớc 7 m × 7 m/ô và 1 ô khích thứơc 3 m × 7 m/ô. - Hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thƣớc 2,4 m × 1,6 m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thƣớc 2,4 m × 0,65 m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống. n 5 - Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi nhƣ: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc… - Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn.
Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió. Hai bên tƣờng có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm. Trên trần đƣợc lắp hệ thống chống nóng. - Trong khu chăn nuôi, đƣờng đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều đƣợc đổ bê tông và có các hố sát trùng.
- Hệ thống nƣớc trong khu chăn nuôi đều là nƣớc giếng khoan. Nƣớc uống cho lợn đƣợc cấp từ một bể lớn, đầu mỗi chuồng có 1 bể riêng để pha thuốc cho lợn uống phòng khi lợn ốm. Nƣớc tắm, nƣớc phục vụ cho công tác khác đƣợc bố trí từ bể lọc và đƣợc bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng. Cơ cấu tổ chức của trang trại 01 chủ trại.
03 quản lý kỹ thuật. 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại. 20 sinh viên thực tập. Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở các khu nái, khu hậu bị, nhà bếp.
Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều đƣợc khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại. Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2015-2017 6 tháng đầu TT Loại lợn Đơn vị Năm 2015 Năm 2016 năm 2017 1 Lợn đực giống Con 22 24 23 2 Lợn nái hậu bị Con 178 143 163 3 Lợn nái sinh Con 1147 1159 1182 sản 4 Lợn con Con 27020 27205 13915 (Nguồn: Phòng kỹ thuật trang trại) 2. Tình hình sản xuất của trang trại - Công tác chăn nuôi: Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất lợn con giống, nuôi lợn thịt và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lƣợng cao, đƣợc Công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tƣợng lợn của trại.
- Công tác thú y: Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên Công ty chăn nuôi CP Việt Nam. - Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông. Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nƣớc tiểu, khơi thông cống rãnh, đƣờng đi trong trại đƣợc quét dọn và rắc vôi theo quy định. Công nhân, kỹ sƣ, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nƣớc sạch trƣớc khi thay quần áo bảo hộ lao động.
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều đƣợc rắc vôi bột, các phƣơng tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào. Với phƣơng châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều đƣợc cho uống thuốc, n 7 tiêm phòng vắc xin đầy đủ. Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn đƣợc trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con.
Lợn đƣợc tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, đƣợc chăm sóc nuôi dƣỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo đƣợc trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn. Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%.