Tổng quan nghiên cứu

Dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh trải dài qua 137 km đường bờ biển với tổng diện tích tự nhiên 498 km2, bao gồm 38 xã, phường thuộc 6 huyện và thị xã. Khu vực này là nơi cư trú của 226.499 người dân với mật độ dân số trung bình 454 người/km2. Hệ thống hạ tầng đê điều đóng vai trò phòng hộ thiết yếu, bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp rộng lớn với hơn 9.980 ha canh tác lúa và vùng nuôi trồng thủy sản đạt sản lượng 24.935 tấn mỗi năm. Trước bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và hiện tượng nước biển dâng, vùng duyên hải Hà Tĩnh thường xuyên đối mặt với các hình thái thiên tai cực đoan như bão mạnh kèm triều cường. Thực tế cho thấy mạng lưới 19 tuyến đê với chiều dài gần 200 km cùng 151 cống dưới đê đang bộc lộ nhiều điểm xung yếu, sạt lở nghiêm trọng gây mất an toàn. Mục tiêu của luận văn là đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ thống đê cống ven biển Hà Tĩnh, xây dựng bản đồ ngập lụt chi tiết và xác định ma trận rủi ro dưới các kịch bản biến đổi khí hậu RCP 4.5 và RCP 8.5. Phạm vi nghiên cứu bao quát 6 địa phương ven biển gồm Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và thị xã Kỳ Anh, khai thác chuỗi số liệu thủy văn khí tượng từ năm 1958 đến năm 2018 và mô phỏng đến các năm 2035, 2065, 2099. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học giúp định hướng giải pháp công trình và phi công trình nhằm giảm thiểu tổn thất thiên tai cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu IPCC, xác định tổn thương là hàm số phụ thuộc vào ba yếu tố: mức độ phơi bày hiểm họa, độ nhạy cảm của hệ thống và năng lực thích ứng. Nghiên cứu kết hợp lý thuyết dòng chảy thủy lực một chiều và hai chiều trong môi trường sông biển ngập lụt để mô phỏng tương tác giữa triều cường, nước biển dâng và lũ thượng nguồn. Năm khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa bao gồm: hiểm họa thiên tai ven bờ, tính dễ bị tổn thương của đê điều, độ nhạy kết cấu công trình, năng lực thích ứng quản lý và kịch bản phát thải khí nhà kính RCP. Các quy chuẩn kỹ thuật an toàn đê biển được đối chiếu theo Quyết định 58/2006/QĐ-TTg với tiêu chuẩn thiết kế chống bão cấp 10 và triều tần suất 5%.

Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của luận văn là toàn bộ 17 tuyến đê cửa sông, đê biển chính và 151 cống tiêu thoát nước dưới đê dọc 137 km bờ biển thuộc 38 xã, phường. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm bao quát toàn diện hiện trạng công trình và phát hiện chính xác các vị trí xung yếu. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm chuỗi số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 1958 - 2018 tại 8 trạm tiêu biểu như Hà Tĩnh, Kỳ Anh, Kẻ Gỗ, Sông Rác, Thạch Đồng, kết hợp số liệu địa hình từ các mặt cắt sông thực đo. Tác giả lựa chọn bộ mô hình thủy lực MIKE 11 kết hợp MIKE FLOOD làm công cụ phân tích chủ đạo vì tính ưu việt trong việc mô phỏng mạng sông phức tạp và lan truyền ngập lụt hai chiều trên đồng bằng ven biển. Quá trình kiểm định mô hình sử dụng chuỗi số liệu thực đo trận lũ lịch sử tháng 10 năm 2010 với lượng mưa đạt 886 mm tại trạm Sông Rác, đảm bảo hệ số tin cậy cao trước khi tính toán mô phỏng ngập lụt cho các giai đoạn 2016-2035, 2046-2065 và 2080-2099.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ kiên cố hóa của hệ thống đê điều ven biển Hà Tĩnh còn thấp khi toàn tỉnh mới nâng cấp được 172 km trong tổng số 282 km đê theo quy hoạch, đạt tỷ lệ khoảng 60%. Khoảng 40% chiều dài tuyến đê còn lại và nhiều cống dưới đê vẫn trong tình trạng xuống cấp; điển hình như đê kè Cẩm Nhượng bị sóng đánh sạt lở 700 mét chân khay và hư hỏng 300 mét mái kè sau bão số 10 năm 2017. Thứ hai, kết quả mô phỏng thủy lực theo kịch bản RCP 8.5 chỉ ra rằng nước biển dâng kết hợp triều cường vào cuối thế kỷ 21 sẽ làm gia tăng diện tích ngập sâu trên 1,5 mét tại các vùng hạ lưu sông Nghèn và sông Rào Cái thêm hơn 25% so với thời kỳ nền. Thứ ba, tính dễ bị tổn thương có sự phân hóa không gian rõ rệt; tuyến đê Hội Thống tại Nghi Xuân, đê Tả Nghèn tại Lộc Hà và đê Khang Ninh tại Kỳ Anh thuộc nhóm tổn thương cao nhất do cao trình đỉnh đê hiện trạng chỉ từ +2,5 mét đến +3,5 mét, không đủ khả năng chắn sóng leo cực đoan.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro ngập lụt ven biển Hà Tĩnh bắt nguồn từ địa hình hẹp và dốc khiến lũ tập trung nhanh với mô đun dòng chảy đỉnh lũ đạt 5 đến 6 m3/s/km2, kết hợp với chế độ nhật triều không đều có biên độ triều lên tới 2,8 mét cản trở thoát lũ ra biển. So sánh với các nghiên cứu thủy văn tại dải ven biển Bắc Trung Bộ, kết quả luận văn phản ánh quy luật gia tăng mức độ rủi ro công trình dưới tác động kép của biến đổi khí hậu và suy giảm diện tích rừng phòng hộ. Dữ liệu ngập lụt và mức độ tổn thương được thể hiện trực quan qua hệ thống bản đồ số hai chiều và bảng ma trận đánh giá rủi ro đa tiêu chí. Điều này khẳng định việc chỉ nâng cao trình đê đơn thuần là chưa đủ, mà cần giải pháp tích hợp giữa chỉnh trị dòng chảy cửa sông, cải tạo khẩu độ cống và trồng rừng ngập mặn giảm sóng ven bờ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo vệ an toàn cho 226.499 người dân ven biển:

Thứ nhất, nâng cấp và kiên cố hóa 110 km đê cửa sông, đê biển còn lại để hoàn thành 100% mục tiêu 282 km theo tiêu chuẩn chống bão cấp 10 và triều tần suất 5% trong giai đoạn 2020-2030. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh cần bố trí kinh phí gia cố khẩn cấp 1.200 mét kè chân đê Hội Thống và nâng cấp 151 cống dưới đê.

Thứ hai, phục hồi và mở rộng 500 ha rừng ngập mặn chắn sóng tại các bãi bồi ven cửa Sót, cửa Nhượng và cửa Khẩu trong giai đoạn 2021-2026. Chi cục Kiểm lâm chủ trì thực hiện nhằm hấp thụ từ 30% đến 40% năng lượng sóng biển va đập vào thân đê.

Thứ ba, nâng cấp hệ thống quan trắc tự động tại 100% trạm đo thủy văn ven sông và cửa biển trước năm 2025. Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh tích hợp mô hình MIKE FLOOD vào hệ thống cảnh báo sớm ngập lụt thời gian thực.

Thứ tư, hoàn thiện quy hoạch không gian thích ứng và chuyển đổi 1.945 ha diện tích mặt nước nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy sản công nghệ cao trước năm 2030. Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban nhân dân 6 huyện, thị xã ven biển triển khai phương án phân vùng rủi ro thiên tai và di dời các khu dân cư ven biển có độ sâu ngập dự báo trên 2,0 mét.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi Hà Tĩnh có thể sử dụng cơ sở dữ liệu về 17 tuyến đê và 151 cống để xây dựng kế hoạch phân bổ vốn nâng cấp hạ tầng phòng chống thiên tai trung hạn.

Thứ hai, các kỹ sư công trình thủy lợi và tư vấn thiết kế xây dựng khai thác bộ thông số thủy lực, cao trình đỉnh đê từ +3,5 mét đến +5,0 mét và kết cấu kè bảo vệ mái đê bằng bê tông đúc sẵn phù hợp điều kiện sóng biển miền Trung.

Thứ ba, các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Thủy văn học, Biến đổi khí hậu ứng dụng quy trình tích hợp mô hình MIKE FLOOD và ma trận đánh giá tính dễ bị tổn thương làm khung phương pháp luận cho các lưu vực tương tự.

Thứ tư, chính quyền địa phương tại 38 xã, phường thuộc 6 huyện, thị xã ven biển tham khảo bản đồ ngập lụt để xây dựng kịch bản sơ tán cho 63.723 hộ dân khi xảy ra thiên tai cực đoan.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình thủy lực nào được áp dụng để tính toán mô phỏng ngập lụt trong luận văn? Luận văn sử dụng bộ mô hình MIKE 11 kết hợp MIKE FLOOD nhằm liên kết dòng chảy một chiều trong sông và dòng ngập hai chiều trên bãi. Mô hình được hiệu chỉnh dựa trên dữ liệu trận lũ tháng 10 năm 2010 với lượng mưa 886 mm tại trạm Sông Rác, đem lại kết quả có độ tin cậy cao.

Tỷ lệ hoàn thiện nâng cấp hệ thống đê biển tỉnh Hà Tĩnh hiện nay là bao nhiêu? Theo số liệu thống kê, tỉnh Hà Tĩnh mới nâng cấp được 172 km đê xung yếu trong tổng số 282 km theo quy hoạch, đạt tỷ lệ khoảng 60%. Khoảng 110 km đê còn lại cần tiếp tục được đầu tư kiên cố hóa để đảm bảo khả năng chống bão cấp 10.

Nghiên cứu sử dụng các kịch bản biến đổi khí hậu nào để phân tích rủi ro? Nghiên cứu ứng dụng hai kịch bản phát thải chính thức do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố là kịch bản trung bình RCP 4.5 và kịch bản cao RCP 8.5, với các mốc thời gian mô phỏng kéo dài từ năm 2016 đến năm 2099.

Những công trình đê kè nào ghi nhận mức độ xung yếu và tổn thương cao nhất? Các điểm nóng xung yếu gồm kè đê Hội Thống tại Nghi Xuân với 1.200 mét kè bị hư hỏng, tuyến kè biển Cẩm Nhượng sạt lở 700 mét chân khay sau bão số 10 năm 2017, và hệ thống cống tiêu dưới đê Hữu Phủ bị xói lở.

Đóng góp thực tiễn lớn nhất của đề tài đối với tỉnh Hà Tĩnh là gì? Đề tài đã xây dựng thành công bản đồ tính dễ bị tổn thương số hóa cho 19 tuyến đê và 151 cống, hỗ trợ chính quyền địa phương lập kế hoạch phòng chống thiên tai và bảo vệ an toàn cho 226.499 cư dân ven biển.

Kết luận

  • Đánh giá chi tiết hiện trạng kỹ thuật và độ an toàn của 17 tuyến đê chính dài gần 200 km cùng 151 cống tiêu thoát nước tại 38 xã ven biển Hà Tĩnh.
  • Thiết lập thành công mô hình thủy lực MIKE FLOOD mô phỏng ngập lụt dựa trên chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 60 năm từ 1958 đến 2018.
  • Xây dựng hệ thống bản đồ tính dễ bị tổn thương và ma trận rủi ro dưới các kịch bản biến đổi khí hậu RCP 4.5 và RCP 8.5 đến năm 2099.
  • Xác định khoảng 40% chiều dài tuyến đê chưa được nâng cấp là các trọng điểm xung yếu cần ưu tiên xử lý khẩn cấp.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình kết hợp phi công trình đồng bộ nhằm bảo vệ tính mạng 226.499 cư dân và 498 km2 diện tích đất tự nhiên.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cấp chính quyền hoàn thành kiểm toán an toàn đê điều giai đoạn 2021-2025 và hoàn tất kiên cố hóa trước năm 2030. Các nhà quản lý và kỹ sư hãy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quy hoạch phòng thủ ven biển ngay hôm nay.