Tổng quan nghiên cứu

Khu Dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà có tổng diện tích 28.500 ha, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực Vịnh Bắc Bộ. Vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển là Vườn Quốc gia Cát Bà với diện tích 15.800 ha, bao quanh là vùng đệm có diện tích 14.700 ha gồm 6 xã và 1 thị trấn với tổng dân số khoảng 16.340 người. Trong khi 66% dân số tập trung tại khu vực thị trấn để phát triển thương mại dịch vụ, đa phần người dân tại 6 xã vùng đệm vẫn phụ thuộc mật thiết vào các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản.

Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong năm quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất bởi hiện tượng ấm lên toàn cầu. Số liệu quan trắc khí tượng thủy văn cho thấy trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng khoảng 0,5°C và mực nước biển dâng với tốc độ 2,9 mm/năm trong giai đoạn 1993 - 2010. Tại thành phố Hải Phòng, hiện tượng xói lở bờ biển đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến 16,1 km trên tổng số 125 km đường bờ, đe dọa trực tiếp cấu trúc kinh tế - xã hội ven bờ.

Luận văn tập trung đánh giá mức độ nhạy cảm và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với các mô hình sinh kế tại 6 xã vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà trong giai đoạn 2012. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học định lượng nhằm phân tích năng lực thích ứng của cộng đồng địa phương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý tài nguyên và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững, giảm thiểu rủi ro sinh kế trước diễn biến phức tạp của thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu kết hợp hai nền tảng lý thuyết chủ đạo bao gồm Khung sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh kết hợp định hướng của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, cùng Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu được phát triển bởi các chuyên gia quốc tế vào năm 2009. Mô hình nghiên cứu phân tích tính dễ bị tổn thương như một hàm số của ba thành tố chính: Mức độ phơi nhiễm, Tính nhạy cảm và Năng lực thích ứng.

Năm khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt đề tài gồm:

  • Mức độ phơi nhiễm: Thể hiện đặc trưng phân bố không gian và mức độ tiếp xúc trực tiếp của cộng đồng ven biển trước các hiểm họa thời tiết cực đoan và nước biển dâng.
  • Tính nhạy cảm: Mức độ phụ thuộc của các hoạt động kinh tế vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên hệ sinh thái và nguồn nước ngọt trên đảo.
  • Năng lực thích ứng: Khả năng điều chỉnh của hệ thống hộ gia đình dựa trên việc huy động 5 nguồn vốn sinh kế nhằm giảm thiểu thiệt hại và tận dụng cơ hội mới.
  • Vốn sinh kế: Bao gồm năm nhóm tài sản cốt lõi là nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính.
  • Tính dễ bị tổn thương: Trạng thái dễ chịu tổn thất của một hệ thống sinh kế khi các tác động tiêu cực vượt quá năng lực ứng phó và thích nghi nội tại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp từ kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chuỗi số liệu quan trắc trạm khí tượng Phù Liễn và trạm hải văn Hòn Dáu trong giai đoạn 1955 - 2007. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân kết hợp điều tra bảng hỏi trực tiếp. Cỡ mẫu khảo sát gồm 120 hộ gia đình phân bố tại 6 xã vùng đệm: Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám, Gia Luận, Trân Châu và Việt Hải.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cho 5 nhóm sinh kế chính: trồng trọt, chăn nuôi, khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ du lịch. Các công cụ chuyên sâu như lập hồ sơ hiểm họa, xây dựng lịch mùa vụ và tổ chức các buổi thảo luận nhóm tập trung từ 10 đến 15 người được triển khai đồng bộ. Phương pháp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý tại Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà, Khu Dự trữ sinh quyển và chính quyền địa phương giúp đối chứng dữ liệu thực tế. Quá trình thu thập thông tin hiện trường được chia làm 3 đợt điều tra trong năm 2012: đợt 1 vào tháng 4, đợt 2 vào tháng 8 và đợt 3 vào tháng 11, đảm bảo tính bao quát theo các chu kỳ thời tiết và mùa vụ sản xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích cấu trúc kinh tế và môi trường tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà cho thấy những phát hiện định lượng quan trọng:

Thứ nhất, nhóm sinh kế khai thác và nuôi trồng thủy sản có mức độ phơi nhiễm và tính nhạy cảm cao nhất trước biến đổi khí hậu. Tại xã Phù Long, cơ cấu nghề khai thác ven bờ bộc lộ tính tổn thương lớn khi lưới ghẹ chiếm 37,2% và nghề xăm đáy cố định chiếm 33,3%, trong khi lưới mực chiếm 23,0% và nghề câu chỉ chiếm 6,5%. Hệ sinh thái rạn san hô ghi nhận 197 loài nhưng độ phủ san hô sống suy giảm từ mức 50 - 70% trong các năm trước xuống dưới 40% tại thời điểm nghiên cứu. Diện tích rừng ngập mặn toàn đảo đạt 775,98 ha, trong đó có tới 551,24 ha nằm xen kẹt bên trong các đầm nuôi thủy sản và chỉ có 224,74 ha nằm ngoài tự nhiên, gây cản trở công tác bảo tồn tổng thể.

Thứ hai, sinh kế nông nghiệp chiếm tới 52,8% cơ cấu lao động tại 6 xã vùng đệm nhưng mang lại giá trị gia tăng thấp và chịu rủi ro cao do thiếu hụt nguồn nước ngọt. Đa số các xã chỉ canh tác được một vụ lúa mùa phụ thuộc vào nước mưa tự nhiên, duy nhất xã Việt Hải duy trì được hai vụ lúa nhờ nguồn nước hồi quy từ các thung lũng đá vôi. Địa hình karst hiểm trở khiến nguồn nước ngầm dễ bị nhiễm mặn khi triều cường dâng cao với biên độ dao động từ 2,6 m đến 3,6 m.

Thứ ba, ngành du lịch dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ấn tượng đạt bình quân 37%/năm, đón hơn 500.000 lượt khách, nhưng sự phân bổ lợi ích kinh tế không đồng đều. Khoảng 79,7% dân số tham gia các hoạt động phi nông nghiệp tập trung tại thị trấn Cát Bà với doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm, trong khi tại 6 xã nông thôn vùng đệm chỉ ghi nhận khoảng 247 người trực tiếp tham gia chuỗi dịch vụ du lịch.

Thứ tư, năng lực thích ứng của cộng đồng bị giới hạn nghiêm trọng bởi nguồn vốn tài chính và hạ tầng giao thông. Đa phần các hộ gia đình thiếu vốn lưu động và phụ thuộc vào các nguồn vay ngắn hạn. Trục đường giao thông liên xã dài 27 km từ bến Bèo đến bến Gia Luận thường xuyên chịu nguy cơ ngập lụt và sạt lở bờ kè tại các cung đường xung yếu thuộc xã Hiền Hào và Trân Châu khi xuất hiện mưa lớn bất thường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tính dễ bị tổn thương cao tại vùng đệm Cát Bà bắt nguồn từ sự phụ thuộc quá mức vào nguồn vốn tự nhiên trong bối cảnh các nguồn vốn con người, vốn tài chính và vốn vật chất chưa hoàn thiện. Khi so sánh với các nghiên cứu sinh kế ven biển tại khu vực Bắc Trung Bộ, tính tổn thương của Cát Bà mang nét đặc thù của hệ sinh thái hải đảo cô lập: nguồn nước ngọt khan hiếm, diện tích đất bằng canh tác hạn chế và chi phí vận chuyển vật tư từ đất liền cao gấp nhiều lần.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa hiệu quả thông qua ma trận đánh giá tác động tiềm năng kết hợp sơ đồ phân vùng tổn thương không gian và biểu đồ radar 5 nguồn vốn sinh kế. Biểu đồ mạng nhện thể hiện rõ diện tích nguồn vốn tài chính và vật chất bị co hẹp, trong khi vốn xã hội và sự gắn kết cộng đồng là điểm tựa thích ứng tự phát lớn nhất của người dân trước các cơn bão nhiệt đới.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao khả năng thích ứng và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương cho cộng đồng vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất như sau:

  • Tái cơ cấu mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững gắn với phục hồi 775,98 ha rừng ngập mặn: Chuyển đổi 100% các đầm nuôi tôm thâm canh tự phát sang hình thức nuôi sinh thái kết hợp bảo vệ thảm thực vật ngập mặn; thực hiện trong giai đoạn 2013 - 2017; chủ thể thực hiện là Chi cục Thủy sản Hải Phòng chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải.
  • Kiên cố hóa và nâng cấp 27 km hệ thống hạ tầng giao thông huyết mạch kết hợp đê kè chắn sóng: Tập trung xử lý dứt điểm các điểm sạt lở xung yếu tại xã Hiền Hào và giải quyết tình trạng ngập úng cục bộ tại xã Trân Châu; mục tiêu đảm bảo giao thông thông suốt 100% trong mùa mưa bão; hoàn thành trước năm 2020; chủ thể thực hiện là Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng và Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải.
  • Đa dạng hóa sinh kế thông qua nhân rộng mô hình trồng cây dược liệu và du lịch sinh thái cộng đồng: Mở rộng diện tích trồng cây hồng hoa Hibiscus và cây ba kích tím tại các xã vùng cao như Xuân Đám, Việt Hải; mục tiêu thu hút 35% đến 40% lao động nông nghiệp chuyển dịch sang cung ứng dịch vụ du lịch; triển khai liên tục trong giai đoạn 2014 - 2018; chủ thể thực hiện là Hội Nông dân huyện phối hợp với Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà.
  • Thiết lập cơ chế tín dụng ưu đãi vi mô và đẩy mạnh chuyển giao công nghệ: Cung cấp các gói vay lãi suất ưu đãi dưới 6%/năm cho tối thiểu 80% hộ nghèo và cận nghèo tại 6 xã vùng đệm để đầu tư ngư cụ đánh bắt xa bờ và cải tạo ao đầm; thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2013; chủ thể thực hiện là Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Cát Hải phối hợp cùng chính quyền các xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học định lượng giúp Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải và Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp huyện và tích hợp vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Ban quản lý các khu bảo tồn và vườn quốc gia: Cung cấp phương pháp tiếp cận cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học trong vùng lõi 15.800 ha với việc đảm bảo an ninh sinh kế cho cộng đồng cư dân vùng đệm.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Môi trường: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình tích hợp Khung sinh kế bền vững với các kịch bản biến đổi khí hậu trên địa bàn hải đảo đặc thù.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Cung cấp các chỉ số đánh giá hiện trường phục vụ thiết kế các dự án viện trợ không hoàn lại về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng và thích ứng biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

  • Nhóm sinh kế nào tại vùng đệm Cát Bà chịu rủi ro lớn nhất do biến đổi khí hậu? Khai thác và nuôi trồng thủy sản ven bờ chịu tổn thương nặng nề nhất do tiếp xúc trực tiếp với bão nhiệt đới và nước biển dâng. Khoảng 70% ngư dân địa phương sử dụng ngư cụ thô sơ như lưới ghẹ và xăm đáy, rất dễ bị phá hủy khi thời tiết biến động tiêu cực.

  • Khung đánh giá sinh kế bền vững giải quyết vấn đề gì trong nghiên cứu khí hậu? Khung phân tích lượng hóa toàn diện năm nguồn lực sinh kế của 120 hộ gia đình. Điều này giúp nhận diện rõ sự mất cân bằng giữa nguồn vốn tự nhiên nhạy cảm và nguồn vốn tài chính nghèo nàn, tạo căn cứ đề xuất giải pháp thích ứng chính xác.

  • Nguồn nước ngọt tại đảo Cát Bà bị đe dọa như thế nào trong bối cảnh nước biển dâng? Nguồn nước ngầm trên đảo tập trung trong các thung lũng karst hẹp. Khi mực nước biển dâng cao kết hợp triều cường cực đại lên tới 4,0 m, hiện tượng xâm nhập mặn sẽ làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước tưới tiêu cho hơn 50% hộ nông dân.

  • Rừng ngập mặn đóng góp vai trò cụ thể nào trong việc bảo vệ cộng đồng vùng đệm? Với diện tích 775,98 ha, thảm rừng ngập mặn tại xã Phù Long đóng vai trò như lá chắn sinh học làm giảm năng lượng sóng biển, chống xói lở đường bờ và duy trì nguồn giống thủy sản tự nhiên cho các hộ gia đình nghèo.

  • Giải pháp nào khả thi nhất để nâng cao thu nhập ổn định cho người dân vùng đệm? Mô hình trồng cây dược liệu hồng hoa Hibiscus kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm sinh thái tại xã Xuân Đám và Việt Hải mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp giảm áp lực khai thác tài nguyên tự nhiên trong Vườn Quốc gia.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa thành công quy trình đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với sinh kế của 120 hộ gia đình tại 6 xã vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà.
  • Kết quả nghiên cứu xác định nhóm sinh kế thủy sản và nông nghiệp chịu mức độ tổn thương cao nhất do sự suy giảm tài nguyên tự nhiên và hạn chế về vốn tài chính dự trữ.
  • Đề tài chứng minh vai trò trọng yếu của việc liên kết năm nguồn vốn sinh kế trong việc gia tăng năng lực thích ứng nội tại của cộng đồng hải đảo.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành được xây dựng với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng thích ứng an toàn với các hiện tượng thời tiết cực đoan.
  • Toàn bộ cơ sở dữ liệu và khuyến nghị là tài liệu tham khảo then chốt để địa phương triển khai hiệu quả Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn từ năm 2013 trở đi.