CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tài liệu BĐKH và tác động của BĐKH đến sinh kế của các lãnh thổ đặc thù như vùng ven biển được nhiều tổ chức, học giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi các biểu hiện của BĐKH ngày càng nghiêm trọng, các giải pháp thích ứng hiện có ở nhiều vùng lãnh thổ cho thấy sự chưa hiệu quả, đòi hỏi phải tiếp cận có tính khoa học hơn với các giải pháp đảm bảm tính lãnh thổ, phù hợp với từng đối tượng. Để có cái nhìn tổng thể về vấn đề sinh kế, BĐKH, sinh kế thích ứng với BĐKH vùng ven biển, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: - Phân tích, đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế vùng ven biển, khu vực dễ bị tổn thương bởi sự tác động kép từ lục địa và đại dương.
- Các giải pháp nâng cao năng lực thích ứng của sinh kế trước các tác động của BĐKH. Kết quả nghiên cứu đều nhấn mạnh đến tính hiện hữu của BĐKH với nhiều tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên - yếu tố tạo nguồn vốn quan trọng cho cộng đồng ven biển. Một số công trình nghiên cứu điển hình: 1. Nghiên cứu trên thế giới Các loại hình sinh kế của công đồng dân cư ven biển chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn tự nhiên nên khi có sự bất thường của điều kiện thời tiết và thiên tai sẽ làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của tính dễ bị tổn thương.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: cộng đồng nông thôn ven biển chịu rủi ro, tổn thương cao hơn các cộng đồng khác ở vùng đô thị hay sâu trong nội địa bởi họ không chỉ bị ảnh hưởng bởi nguồn lực tự nhiên giảm sút mà còn bởi sự thiết hụt các nguồn lực xã hội, nguồn lực tài chính, nhất là đối với các cộng đồng, hộ gia đình chỉ có duy nhất một loại hình sinh kế, quy mô sinh kế nhỏ và nhóm yếu thế (người nghèo, phụ nữ,…); do đó, sinh kế bền vững được xem là giải pháp thích ứng quan trọng để đối phó với các tác động tiêu cực của BĐKH thông qua gia tăng tính nội lực của dân cư trong lãnh thổ nhất định (Momtaz S. 5 Kết quả nghiên cứu của công trình: Impacts of climate change on disadvantaged UK coastal communities (Tác động của biến đổi khí hậu đến cộng đồng ven biển ở Anh) của Zsamboky M., 2011 dựa trên cơ sở tổng quan các cộng đồng ven biển ở nước Anh; nghiên cứu tác động của BĐKH đến dải ven biển với các biểu hiện chủ yếu là gia tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và gia tăng xâm nhập mặn do nước biển dâng, hệ quả của các biểu hiện này là tính cực đoan của sóng nhiệt, hạn hán, mưa; các tác động xã hội khác nhau của biến đổi khí hậu ở các cộng đồng ven biển Vương quốc Anh; từ đó, đưa ra các khuyến nghị để nâng cao năng lực thích ứng và khả năng phục hồi của các cộng đồng ven biển. Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ chốt ở nhiều huyện dọc theo bờ biển Vương quốc Anh. Những thay đổi về khí hậu bao gồm sự gia tăng nhiệt độ và lượng mưa có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp.
Cỏ dại, sâu bệnh và dịch bệnh có khả năng mở rộng phạm vi khi nhiệt độ tăng, nông dân có thể phải “vật lộn” để thích nghi với điều kiện khí hậu thay đổi. Một vấn đề thách thức trong ngành nông nghiệp là tỷ lệ nước mặn xâm nhập vào các hệ thống thủy lợi ngày càng gia tăng. Nguyên nhân là do nước dâng do bão ven biển làm suy thoái đất và giảm năng suất cây trồng. Đối với các khu vực điểm nóng như Yorkshire và Lincolnshire và Đông Anglia, nơi có dự đoán nhiệt độ tăng và lượng mưa thấp hơn, điều này có thể gây thêm áp lực về nguồn nước ngọt cho nông dân địa phương, tạo ra hiệu ứng kép có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp bền vững trong những lĩnh vực này.
Vùng ven biển cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp thích ứng để nâng cao năng lực: Chính sách thích ứng nhất quán, phát huy sự tham gia của cộng đồng, đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng năng lực, hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương. Tương tự tại các quốc gia đang phát triển, nghiên cứu Small-scale innovations in coastal communities: Shell-handicraft as a way to empower women and decrease poverty (Các sáng kiến quy mô nhỏ tại các cộng đồng ven biển: Sản xuất hàng thủ công từ động vật có vỏ cứng như một cách thức trao quyền cho phụ nữ và giảm nghèo) của Frocklin S. và cộng sự (2018) tại Tanzania cho thấy hiệu quả của những dự án đổi mới về sinh kế của các cộng đồng dân cư nông thôn ven biển trong bối cảnh xóa đói giảm nghèo và thích ứng với các sự biến đổi của môi trường. Các tác giả đã phân tích tiềm năng của những đổi mới quy mô nhỏ, chẳng hạn như nghề thủ 6 công bằng vỏ, như một cách để thúc đẩy chuyển đổi theo hướng bền vững, giảm nghèo và tăng quyền cho phụ nữ ở Zanzibar, Tanzania.
Dự án thủ công mỹ nghệ bằng vỏ sò được USAID thành lập năm 2006 và được giới thiệu như một sinh kế thay thế cho các hoạt động khai thác rong biển và thu hoạch động vật không xương sống được trả lương thấp. Tuy nhiên, mục tiêu chính không chỉ là xóa đói giảm nghèo và trao quyền cho phụ nữ, mà còn cải thiện việc quản lý các nguồn tài nguyên ven biển. Công trình sử dụng phương pháp nghiên cứu có sự tham gia về khả năng trao quyền cho phụ nữ. Theo đó, tiếp cận các nguồn lực (tài chính, vật chất, con người và xã hội) là phương tiện quan trọng để đạt được mục tiêu thoát bẫy nghèo sinh kế, phụ nữ làm nghề thủ công bằng vỏ sò đã cải thiện khả năng tiếp cận nhiều nguồn lực, chủ yếu là vật chất (nhà, điện thoại di động, tủ đông và điện), con người (kiến thức về tiếp thị, lãnh đạo và kinh doanh), và xã hội (tổ chức).
Điều này càng làm cho sự tự tin và quyền ra quyết định trong hộ gia đình được cải thiện. Về nguồn lực tài chính, cả tiết kiệm và thu nhập đều được cải thiện. Kết quả cho thấy: Phụ nữ đều hài lòng và đã nâng cao mức sống nhưng khả năng mở rộng mô hình còn hạn chế, những người tham gia và nhận được lợi ích từ dự án khá hạn chế. Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu có tính lý luận và thực tiễn ở trên đã được tiến hành ở các cộng đồng ven biển với các phương pháp nghiên cứu đa dạng, nhưng tập trung chủ yếu vào đánh giá các kết quả dự án với sự tham gia của các bên có liên quan, nhất là đối tượng nghiên cứu là cộng đồng; tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu mang tính đặc thù của những khu vực nghiên cứu cụ thể với bối cảnh, nguồn lực khác nhau nên sẽ là nguồn tham khảo hữu ích trong triển khai thực hiện đề tài luận văn.
Nghiên cứu tại Việt Nam 1. Các nghiên cứu về sinh kế và sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu: Ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức và các nhà khoa học nhằm cải thiện và nâng cao giá trị của các loại hình, mô hình sinh kế cho các cộng đồng dân cư theo các hướng tiếp cận khác nhau; trong đó, phải kể đến một số công trình: 7 - Viện Kinh tế Sinh thái là tổ chức tiên phong nghiên cứu về các mô hình sinh kế bền vững dựa vào cộng đồng lấy hệ sinh thái làm trung tâm với mô hình làng kinh tế sinh thái, dựa vào nghiên cứu đặc trưng các yếu tố sinh thái, yếu tố nhân văn và mối quan hệ giữa chúng trong một khu vực nhất định; từ đó, đề xuất các mô hình sinh kế phù hợp với quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo tính bền vững cho các loại hình sinh kế và tính ổn định của đời sống dân cư. Mô hình làng điển hình: vùng đất cát hoang hóa ở thôn Vĩnh Hòa, xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong, Quảng Trị; làng kinh tế sinh thái Phú Điền, Nam Sách, Hải Dương; Làng sinh thái vùng đồi Ba Trại của người Mường ở Hòa Bình …; Mô hình canh tác bền vững trên các loại đất khác nhau, như: mô hình canh tác bền vững trên vùng đất cát; Canh tác bền vững ở vùng đất trũng và Mô hình kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc. Theo đó, để đảm bảo tính bền vững của các mô hình canh tác cần quan tâm đến các yếu tố cốt lõi: phương thức sử dụng đất; chú trọng phương thức nông, lâm, ngư kết hợp; phương thức canh tác phù hợp với từng loại đất; từ các kết quả nghiên cứu mô hình, Viện đã rút ra các bài học kinh nghiệm khi xây dựng các mô hình nông nghiệp sinh thái.
Việt Nam là quốc gia được nhiều tổ chức quốc tế , như: IUCN, Quỹ trẻ em, Toyota, …hỗ trợ để xây dựng và nâng cao chất lượng sinh kế của các khu vực lãnh thổ đặc trưng, nhất là các vùng dễ bị tổn thương: (i) khu vực hệ sinh thái vùng cát ven biển; (ii) khu vực các hệ sinh thái vùng gò đồi và vùng núi cao; iii) khu vực các hệ sinh thái đất ngập nước; các mô hình này có hạn chế là chưa lồng ghép sâu sắc các vấn đề BĐKH; do đó, giải pháp để thích ứng còn chưa bao quát được các biến động có tính phức tạp đang diễn ra, chưa huy động được các thành phần trong xã hội cùng tham gia. Các công trình nghiên cứu về mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH ở một số địa phương như: Phú Thọ, Hưng Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Bắc Kạn,.do các cơ quan nhà nước như: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện.