CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình ngoài nước Từ những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đã có nhiều nhà khoa học dành sự quan tâm và nghiên cứu tới sinh kế, BĐKH và mối liên hệ tương quan giữa sinh kế với BĐKH, đặc biệt là nghiên cứu về sinh kế của cộng đồng cư dân vùng nông thôn.
Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tới từ giai đoạn sau năm 2010. Burton và cộng sự (2003) trong công trình nghiên cứu “Sinh kế và biến đổi khí hậu: kết hợp giảm thiểu rủi ro thiên tai, quản lý tài nguyên thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu theo cách tiếp cận mới để giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và nghèo đói” (Livelihoods and climate change: combining disaster risk reduction, natural resource management and climate change adaptation in a new approach to the reduction of vulnerability and poverty) của mình đã khẳng định: các chiến lược thích ứng với BĐKH có mục tiêu trọng tâm là giảm thiểu tính dễ bị tổn thương, duy trì và củng cố sinh kế của con người, trong đó người nghèo và nhóm người yếu thế là đối tượng chủ đạo thông qua việc cải thiện các nguồn lực có sẵn trong tự nhiên. Nguồn lực tự nhiên là phương tiện sản xuất sẵn có, hình thành nên sinh kế cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng, vậy nên việc duy trì và cải thiện nguồn lực tự nhiên sẽ là cơ sở nhằm đảm bảo an ninh sinh kế. Zsamboky và cộng sự (2011), trong công trình “Tác động của biến đổi khí hậu đối với các cộng đồng ven biển có hoàn cảnh khó khăn ở Vương quốc Anh” (Impacts of climate change on disadvantaged UK coastal communities) đã đưa ra nhận định trong bối cảnh BĐKH, khu vực ven biển là khu vực dễ bị tổn thương hơn so với các khu vực nằm sâu trong lục địa.
Bên cạnh các tác động về lượng mưa, độ ẩm và nhiệt độ thì vùng này còn chịu ảnh hưởng của nước biển dâng, xâm nhập mặn và sóng biển. BĐKH gây ảnh hưởng trực tiếp tới sinh kế của cư dân ven biển, trong đó đặc biệt là các hoạt động liên quan tới du lịch và đánh bắt thủy sản thông qua các chi tiết như hư hỏng cơ sở vật chất, giảm số ngày ra khơi của ngư dân,,… Từ đó dẫn tới sự sụt giảm thu nhập của cá nhân và ảnh hưởng tới nền kinh tế của địa phương. 16 Một số tác giả khác đã nghiên cứu tổng quan và phân tích tương đối hệ thống về sinh kế, BĐKH và khả năng phục hồi của sinh kế trước sự ảnh hưởng của BĐKH. Nghiên cứu “Khả năng phục hồi sinh kế trước biến đổi khí hậu” (Livelihood resilience in the face of climate change) (Tanner và cộng sự, 2014) đã chỉ ra rằng, để ứng phó hiệu quả với BĐKH cần có các biện pháp sinh kế hợp lý đối với từng khu vực, từng cộng đồng dân cư khác nhau, nhất là các biện pháp tập trung vào nhu cầu của con người và trao quyền cho nhóm người yếu thế, như vậy sẽ đem lại nhiều lợi ích trong cả ngắn hạn và dài hạn.
Công trình nghiên cứu “Nhận thức và khả năng sinh kế của các hộ gia đình dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu ở vùng ven biển bang Akwa Ibom, Nigeria” (Households’ perception and livelihood vulnerability to climate change in a coastal area of Akwa Ibom State, Nigeria) của Amos và cộng sự (2015) cũng đồng tình với quan điểm nêu trên và cho rằng: BĐKH là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của cư dân vùng nông thôn ven biển nên cần có những giải pháp, chiến lược sinh kế trên cơ sở kết hợp kinh nghiệm bản địa với kiến thức, công nghệ mới nhằm đạt hiệu quả cao nhất trước các tác động bất lợi, đồng thời vẫn phù hợp với kiến thức và khả năng tiếp thu của cư dân địa phương. Yang và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Vốn sinh kế và chuyển nhượng đất đai của các loại nông dân khác nhau: Bằng chứng từ dữ liệu bảng ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc” (Livelihood Capital and Land Transfer of Different Types of Farmers: Evidence from Panel Data in Sichuan Province, China) đã nghiên cứu khám phá về các đặc điểm của sinh kế, vốn sinh kế, sự chuyển dịch đất đai của cư dân tỉnh Tứ Xuyên theo các chiến lược sinh kế khác nhau và tác động của vốn sinh kế đối với sự chuyển nhượng đất đai. Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình Logit và mô hình Tobit cho các dữ liệu thu được từ tỉnh Tứ Xuyên trong các năm 2012, 2016 và 2019 của nhóm Khảo sát phát triển nông thôn Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân thuần túy có xu hướng chuyển vốn khác sang vốn tự nhiên, do đó tổng giá trị chỉ số vốn sinh kế của họ giảm.
Những người nông dân làm nghề bán thời gian có đặc điểm chuyển dịch khác nhau nhưng tổng giá trị chỉ số vốn sinh kế của họ đều tăng đầu tiên và sau đó giảm xuống. Những người không phải nông dân có xu hướng chuyển vốn tự nhiên sang vốn sinh kế khác, do đó, tổng giá trị chỉ số vốn sinh kế của họ tăng lên. Nghiên cứu này đã cung cấp được một số đề xuất cho chính sách chuyển nhượng đất của nông dân theo các nguồn vốn hỗ trợ 17 sinh kế khác nhau như: đề xuất chính phủ trong việc tăng cường hỗ trợ nông dân thuần túy và nông dân bán thời gian trong sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy sự trở lại của lực lượng lao động nông thôn; đề xuất chính phủ tính đến sự khác biệt của nguồn vốn hỗ trợ sinh kế để khuyến khích nông dân chuyển nhượng đất đai. Về các yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của cư dân, đặc biệt là cư dân tại vùng nông thôn có những nghiên cứu như sau: Mawa và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Rừng cộng đồng có mang lại lợi ích sinh kế không? Thông tin chi tiết từ Uganda” (Are community forests delivering livelihood benefits? Insights from Uganda) của mình đã chỉ ra rằng phương pháp tiếp cận lâm nghiệp cộng đồng tại Uganda trao quyền rõ ràng cho các nhóm cộng đồng để quản lý và sở hữu tiền thu được từ các nguồn tài nguyên rừng cụ thể nhằm nâng cao lợi ích sinh thái xã hội.
Tuy nhiên, một thực trạng là sau thời gian hai thập kỷ thực hiện, hiện vẫn chưa có đủ bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa những thay đổi trong sinh kế của cộng đồng địa phương với việc tham gia phương pháp này. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc khảo sát tại miền trung tây của Uganda, nơi có Hiệp hội đất đai được giao nhiệm vụ quản lý các hộ gia đình tham gia và 91 hộ gia đình không tham gia. Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể trong khả năng tiếp cận các nguồn vốn tự nhiên, xã hội và tài chính của các hộ gia đình thành viên hiệp hội đất đai. Thu nhập từ nương rẫy là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình trong khu vực, nhưng các hộ gia đình cũng thể hiện sự phụ thuộc nhiều vào thu nhập từ môi trường rừng với việc giảm tỷ lệ nghèo lần lượt là 12,5% và 5,5% ở các hộ gia đình thành viên và các hộ gia đình không phải thành viên.
Kết luận của nghiên cứu chỉ ra rằng để đóng góp đáng kể vào sinh kế nông thôn, các can thiệp bảo tồn và phát triển cần tăng cường các động lực cả về kinh tế và phi kinh tế để củng cố những lợi ích đã đạt được trong khi vẫn luôn cần phải có sự phát triển vốn con người và vốn vật chất. Mamathalakshmi và cộng sự (2022) trong nghiên cứu “Các yếu tố chịu trách nhiệm đảm bảo sinh kế cho những người lao động nông nghiệp ở Karnataka: Một nghiên cứu phân tích” (Factors responsible for livelihood security among agricultural labourers in Karnataka: An analysis) đã tìm hiểu về các yếu tố chịu trách nhiệm cho an ninh sinh kế của những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Karnataka, Ấn Độ. Nhóm tác giả đã chỉ ra thực trạng rằng lao động nông nghiệp cho đến nay vẫn là bộ phận lao động lớn nhất trong những khu vực không được tổ chức bài bản. Nghiên cứu được thực hiện 18 nhằm so sánh tình trạng an ninh sinh kế của lao động nông nghiệp trong các hoàn cảnh nông nghiệp khác nhau, từ đó biết được mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến tình trạng an ninh sinh kế của lao động nông nghiệp và xác định các yếu tố phân biệt đối xử ảnh hưởng đến tình trạng an ninh sinh kế của lao động nông nghiệp.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp Likert, phương pháp kiểm định hệ số tương quan (r), kiểm định hồi quy tuyến tính đồng hiệu quả (R2) cho ta biết có sự khác biệt đáng kể về tình trạng an ninh sinh kế giữa những người lao động nông nghiệp trong các hoàn cảnh nông nghiệp khác nhau. Giá trị R2 chỉ ra rằng tất cả 29 biến độc lập đã góp phần điều chỉnh 81,40% sự thay đổi trong an ninh sinh kế. Ngegba và cộng sự (2022) trong công trình “Đặc điểm của các hệ thống tiết kiệm cộng đồng nông thôn và tác động đến sinh kế nông thôn ở các huyện được chọn của Sierra Leone” (Characteristics of Rural Community Savings Systems and Impacts on Rural Livelihood in Selected Districts of Sierra Leone) đã nghiên cứu về đặc điểm của hệ thống tiết kiệm cộng đồng nông thôn và tác động đến sinh kế nông thôn tại Sierra Leone. Các tác giả đã đưa ra 03 mục tiêu: xác định các đặc điểm nhân khẩu học xã hội và cá nhân của cư dân nông thôn ảnh hưởng đến việc tham gia vào hệ thống tiết kiệm của cộng đồng nông thôn; xác định các yếu tố, điều kiện hoạt động và phương thức của các hệ thống tiết kiệm; đánh giá tác động của hệ thống tiết kiệm của cộng đồng nông thôn đối với sinh kế của người dân nông thôn.
Nghiên cứu đã đưa ra quy mô mẫu với 1.620 người dân, trong đó có 810 người tiết kiệm và 810 người không tiết kiệm. Sử dụng phần mềm KoBoCollect, nhóm nghiên cứu đã khẳng định việc tham gia vào chương trình tiết kiệm đã tác động tích cực đến các chỉ số phúc lợi cộng đồng nông thôn khác nhau. Tổng quan các công trình trong nước Tại Việt Nam, có nhiều các công trình nghiên cứu về sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy đã có những nghiên cứu liên quan tới các khu vực dễ bị tổn thương do BĐKH như vùng núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực ven biển,… nhưng các nghiên cứu chủ yếu vẫn đang hướng tới các chủ thể là cộng đồng.