Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng (NBD) gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội (KT- XH) trong tương lai.
Vấn đề biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại. Theo báo cáo của Ủy ban liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (2007), nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển tăng nhanh trong vòng 100 năm qua, đặc biệt trong khoảng 25 năm gần đây. Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 0,5-0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm. Hiện tượng El Nino, La Nina1 ngày càng tác động mạnh mẽ.
BĐKH thực sự đã làm cho những thiên tai, đặc biệt là bão, lũ và hạn hán ngày càng khốc liệt. Theo các kịch bản biến đổi khí hậu2 , vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta tăng khoảng 2-30C, tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô lại giảm, mực nước biển có thể dâng khoảng từ 75 cm đến 1 m so với thời kỳ 1980-1999. Nếu mực nước biển dâng cao 1m, sẽ có khoảng 40% diện 1 El Nino là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng nóng lên không bình thường của lớp nước mặt thuộc vùng biển phía đông xích đạo Thái Bình Dương (TBD) kéo dài từ 3 mùa trở lên. El Nino còn được gọi là “pha nóng”.
La Nina: Ngược với El Nino, La Nina là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng lạnh đi không bình thường của lớp nước mặt thuộc vùng biển phía đông xích đạo TBD kéo dài từ 3 mùa trở lên. La Nina còn được gọi là “pha lạnh”. 2 Kịch bản biến đổi khí hậu: Là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. tích đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập, trong đó, thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập trên 20% diện tích; khoảng 10-12% dân số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP.
Tác động của BĐKH đối với nước ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Chỉ tính trong 10 năm gần đây (2001-2010), các loại thiên tai như: Bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 9.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm (Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, 2011). Tác động của biến đổi khí hậu được dự đoán sẽ làm tăng thêm các thách thức về quản lý bền vững vùng ven biển trong bối cảnh nguồn lực có hạn.
Việc gia tăng rủi ro từ khí hậu là một trong những áp lực làm gia tăng khả năng bị tổn thương của sinh kế dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các cộng đồng ven biển. Sinh kế của người dân sống ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động đánh bắt. Thiếu nước ngọt trong mùa khô do xâm nhập mặn, và lũ lớn từ thượng nguồn, cả hai nguyên nhân đều gây thiệt hại cho nông nghiệp; ô nhiễm nguồn nước cùng với thiếu hiểu biết gây ra các bệnh dịch tràn lan của động vật dưới nước; suy thoái hệ sinh thái ven biển và cửa sông làm giảm đáng kể sản lượng đánh bắt. Tất cả những nguyên nhân này đã gây ảnh hưởng tới sinh kế của dân cư địa phương.
Hiện tại, các thảm họa thiên nhiên, như xói lở bờ biển và bờ sông, và một số hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như bão, lũ lụt và hạn hán đã ảnh hưởng đến đa số người dân đồng bằng Sông Cửu Long, và đẩy nhiều hộ gia đình tới cảnh nghèo đói quanh năm. Trần Đề là huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng, nằm ở cuối dòng sông Hậu của miền Nam Việt Nam, nằm trên trục giao thông Quốc lộ Nam sông Hậu mới mở nối liền thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang, với tỉnh Bạc Liêu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 260 km. Người dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản, trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hiện nay mưa bão với tần suất và cường độ ngày càng tăng đã tác động đến năng suất trồng trọt cũng như sản lượng đánh bắt của các hộ khai thác thủy sản gần bờ; nhiệt độ tăng dần theo từng năm, nắng nóng kéo dài tác động nghiêm trọng đến hoạt động nuôi thủy, hải sản; nước biển dâng cao, triều cường kết hợp mưa gây sạt lở đất và ngập úng các khu vực trồng hoa màu và cây lương thực ven tuyến đê biển.
Dựa vào cơ sở các phân tích trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp sinh kế bền vững cho dân cư vùng ven biển huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng” nhằm phân tích, đánh giá thực trạng sinh kế của người dân vùng ven biển để từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường khả năng thích ứng sinh kế của người dân trước các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Mục đích nghiên cứu của đề tài a. Mục đích của đề tài Đề xuất giải pháp sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho người dân vùng ven biển huyện Trần Đề. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu và sinh kế vùng ven biển - Phân tích thực trạng sinh kế vùng ven biển và những yếu tố ảnh hưởng - Đề xuất giải pháp sinh kế bền vững cho người dân vùng ven biển 3.
Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu a. Cách tiếp cận của đề tài Đề tài sử dụng cách tiếp cận sinh kế thông qua sử dụng công cụ khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển quốc tế Anh (UK-DFID, 2001). Tiếp cận sinh kế đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về BĐKH, giúp phân tích tác động, tính dễ tổn thương và thích ứng với BĐKH, dự đoán tác động và phát triển các biện pháp thích ứng một cách tổng quát hơn. Khung sinh kế bền vững là một công cụ để nâng cao hiểu biết của chúng ta về sinh kế, đặc biệt là sinh kế của người nghèo, được thiết kế để trở thành một công cụ linh hoạt để sử dụng trong quy hoạch và quản lý, xóa bỏ đói nghèo.
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó về BĐKH, các kết quả nghiên cứu về khung sinh kế của các đề tài, dự án đã thực hiện trước đó, tổng hợp, đánh giá các tác động của BĐKH tới sinh kế của người dân vùng ven biển khu vực nghiên cứu. Từ đó đề xuất giải pháp sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính, sau đây: - Phương pháp kế thừa (tổng hợp, phân tích các nghiên cứu thực hiện trước đây, kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có cả trong và ngoài nước) - Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin, dữ liệu - Phương pháp tham vấn chuyên gia 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu a.
Đối tượng nghiên cứu Biến đổi khí hậu và sinh kế dân cư vùng ven biển huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: vùng ven biển huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng - Phạm vi thời gian: năm 2011-2014 5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài a. Ý nghĩa khoa học của đề tài Về mặt cơ sở lý luận, luận văn sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận về tác động của biến đổi khí hậu tới sinh kế của dân cư vùng ven biển.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Việc đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu tới sinh kế của dân cư vùng ven biển huyện Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng) sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững cho dân cư trong vùng. Các kết quả của đề tài sẽ có thể được chuyển giao cho các cơ quan liên quan như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề để làm tài liệu tham khảo phục vụ xây dựng các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Kết quả dự kiến đạt đƣợc - Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu và sinh kế vùng ven biển - Đánh giá được thực trạng sinh kế của dân cư vùng ven biển huyện Trần Đề trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng - Đề xuất được giải pháp sinh kế bền vững cho dân cư vùng ven biển huyện Trần Đề 7. Nội dung của luận văn Ngoài phần mở đầ u, kế t luâ ̣n và kiế n nghi ,̣ luâ ̣n văn gồ m có 3 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan về biến đổi khí hậu và sinh kế vùng ven biển Chƣơng 2: Thực trạng sinh kế dân cư vùng ven biển huyện Trần Đề Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu cho dân cư vùng ven biển huyện Trần Đề 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SINH KẾ VÙNG VEN BIỂN 1.1 Khái niệm, biểu hiện và nguyên nhân của biến đổi khí hậu 1.