Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Du lịch sinh thái (DLST) là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa, đồng thời đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tỉnh Đồng Nai nằm ở vị trí cửa ngõ phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh, giữ vai trò bản lề nối vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời là hạt nhân trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Bên cạnh tốc độ phát triển công nghiệp và kinh tế cao, Đồng Nai sở hữu nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú phục vụ du lịch với hơn 60 khu, điểm du lịch, trong đó các điểm du lịch sinh thái chiếm trên 50%.

Tuy nhiên, hoạt động phát triển du lịch sinh thái tại Đồng Nai trong giai đoạn nghiên cứu bộc lộ nhiều hạn chế: chưa khai thác tương xứng với tiềm năng, sản phẩm du lịch có sự trùng lặp giữa các điểm đến, mối liên kết nội tỉnh và liên vùng còn yếu, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và tỷ trọng thu hút khách quốc tế còn rất thấp. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Thị Liễu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Địa lý với đề tài "Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai".

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Đánh giá tổng hợp tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Đồng Nai.
  2. Đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai trong tương lai.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch và du lịch sinh thái.
  2. Xây dựng hệ thống tiêu chí và thang điểm để đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tự nhiên và nhân văn.
  3. Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng khai thác du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai (cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, thị trường khách và hiệu quả hoạt động).
  4. Xác định định hướng không gian tuyến - điểm và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Tiềm năng tài nguyên và thực trạng hoạt động du lịch sinh thái.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ tỉnh Đồng Nai (gồm 11 đơn vị hành chính: thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và 9 huyện: Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch, Thống Nhất, Trảng Bom, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Định Quán, Tân Phú).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, xử lý và phân tích số liệu trong giai đoạn 2001 – 2010 (kết hợp số liệu điều tra thực tế đầu năm 2011).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai trên nền tảng lý luận địa lý du lịch và các quan điểm tiếp cận khoa học liên ngành:

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

  • Khái niệm về du lịch, khách du lịch, tuyến du lịch, khu du lịch theo Luật Du lịch Việt Nam (2005, có hiệu lực từ 14/06/2006) và Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999).
  • Định nghĩa về du lịch sinh thái từ các tổ chức và học giả: Wood (1991), Hector Ceballos-Lascuráin, Hội thảo quốc gia về chiến lược phát triển DLST tại Việt Nam (09/1999), Lê Huy Bá (2000), Trương Hoàng Phương.
  • Khái niệm và đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái (TNDLST) theo Phạm Trung Lương (2000), phân loại thành tài nguyên tự nhiên (rừng, miệt vườn, cảnh quan, sân chim) và tài nguyên nhân văn (di tích khảo cổ, lịch sử - cách mạng, kiến trúc nghệ thuật, làng nghề, văn hóa lễ hội bản địa).
  • Cơ sở pháp lý về bảo tồn sinh học: Luật Đa dạng sinh học (có hiệu lực từ tháng 07/2009).

Quan điểm nghiên cứu:

  • Quan điểm hệ thống lãnh thổ: Xem xét hoạt động du lịch Đồng Nai trong mối liên hệ với tiểu vùng Nam Bộ và mạng lưới du lịch cả nước.
  • Quan điểm kinh tế sinh thái: Kết hợp hài hòa giữa mục tiêu hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường, hạn chế nguy cơ suy thoái tài nguyên.
  • Quan điểm phát sinh: Nghiên cứu nguồn gốc hình thành và diễn tiến của các dạng tài nguyên du lịch để định hướng khai thác hợp lý.
  • Quan điểm phát triển bền vững: Bảo đảm phát triển du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không tổn hại đến tài nguyên và sinh kế của cộng đồng địa phương trong tương lai.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thu thập, phân loại, đối chiếu các nguồn tài liệu, báo cáo ngành và niên giám thống kê.
  • Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Xây dựng và phân tích bản đồ hành chính, bản đồ du lịch, sơ đồ tuyến điểm và biểu đồ tăng trưởng.
  • Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát thực tế điểm đến và tiến hành phát phiếu thăm dò thành phần, ý kiến của du khách (khảo sát mẫu quy chuẩn $n = 50$ phiếu/điểm tại 3 điểm tiêu biểu: Khu du lịch sinh thái Câu Lạc Bộ Xanh, Khu du lịch sinh thái Trang Trại Vườn Xoài, Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền vào ngày 24/04/2011).

Hệ thống chỉ tiêu và thang điểm đánh giá tiềm năng: Tác giả kế thừa các nghiên cứu của Đặng Duy Lợi (1992), Nguyễn Minh Tuệ (1993), Trần Văn Thanh và Trương Hoàng Phương (1995) để thiết lập hệ thống 10 chỉ tiêu với thang điểm 4 bậc (Rất tốt: 4 điểm, Khá tốt: 3 điểm, Trung bình: 2 điểm, Kém: 1 điểm) và trọng số tương ứng:

Nhóm chỉ tiêu Tiêu chí cụ thể Trọng số (Hệ số)
Thu hút du khách Vị trí địa lý 1
Độ hấp dẫn (cảnh quan, kiến trúc, bề dày lịch sử) 3
Tính đa dạng sinh học (đối với điểm tự nhiên) 3
Tính an toàn (an ninh, trật tự, môi trường) 1
Tính bền vững (khả năng tự phục hồi, chống chịu tác động) 3
Quản lý & khai thác Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật (CSHT & VCKT) 2
Tính thời vụ (số ngày hoạt động thuận lợi trong năm) 2
Tính liên kết (bán kính và số lượng điểm kết nối xung quanh) 3
Sức chứa du lịch (lượt khách/ngày và lượt khách/thời điểm) 1
Tính hiệu quả (tỷ lệ du khách có nguyện vọng quay trở lại) Đánh giá khảo sát

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch và du lịch sinh thái

Chương này tập trung trình bày lịch sử hình thành khái niệm du lịch từ thời kỳ cổ đại đến hiện đại, đối chiếu các định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức Du lịch Thế giới và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005. Tác giả đi sâu phân tích bản chất của du lịch sinh thái, chỉ rõ 5 đặc tính cốt lõi: phát triển dựa trên giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa; quản lý bền vững về mặt sinh thái; có nội dung giáo dục môi trường; đóng góp cho công tác bảo tồn; và đảm bảo quyền lợi kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương.

Chương 1 cũng tổng thuật các loại tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù như miệt vườn sông nước Nam Bộ, các sân chim, cảnh quan địa mạo và các giá trị văn hóa bản địa (kiến trúc, lễ hội, làng nghề). Đồng thời, tác giả thiết lập quy trình đánh giá tài nguyên qua 6 bước khoa học và tổng quan bối cảnh phát triển du lịch sinh thái Việt Nam giai đoạn 2009 – 2010 (cả nước có 30 vườn quốc gia; năm 2010 ngành du lịch đón 5,855 triệu lượt khách quốc tế và 28 triệu lượt khách nội địa, thu nhập du lịch ước đạt 96 nghìn tỷ đồng, đóng góp 4,5% GDP).

Chương 2: Đánh giá tổng hợp tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch của tỉnh Đồng Nai

Tác giả phân tích toàn diện các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá hiện trạng tài nguyên du lịch tỉnh Đồng Nai:

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Đồng Nai trải dài từ $10^\circ 30'$ đến $11^\circ 36'$ vĩ độ Bắc và từ $106^\circ 46'$ đến $107^\circ 36'$ kinh độ Đông. Địa hình gồm 88,7% diện tích là cao nguyên và đồng bằng lượn sóng (độ cao 1 – 400m), 5,8% diện tích là núi thấp (200 – 840m) và 5,5% mặt nước. Khí hậu mang tính chất cận xích đạo gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 2009 là 25,9°C, độ ẩm 82%, lượng mưa phân bố theo mùa đạt 2.301,61 mm (tại trạm Long Khánh). Hệ thống thủy văn có dòng chính sông Đồng Nai (chảy qua tỉnh 220 km), sông La Ngà (lưu vực 4.100 $\text{km}^2$, lưu lượng 5,86 tỷ $\text{m}^3$), sông Bé, sông Thị Vải, sông Ray cùng các hồ lớn như hồ Trị An, Đa Tôn, Sông Mây. Độ che phủ rừng đạt khoảng 30% năm 2010 (trong đó rừng tự nhiên chiếm 70,8% diện tích rừng toàn tỉnh), tiêu biểu là Vườn quốc gia Cát Tiên (diện tích trên địa bàn Đồng Nai là 39.108 ha) và các khu rừng ngập mặn gắn với căn cứ Rừng Sác.

Nhóm chỉ tiêu kinh tế - xã hội Số liệu phản ánh (Giai đoạn 2005 – 2010)
Diện tích tự nhiên 5.907,236 $\text{km}^2$ (Kiểm kê đất đai 2010) / 5.903,94 $\text{km}^2$ (2009)
Dân số & Mật độ (2009) 2.491.242 người; Mật độ trung bình 422 người/$\text{km}^2$
Tăng trưởng GDP bình quân Đạt 13,2%/năm trong giai đoạn 2000 – 2010
Quy mô GDP giá thực tế (2010) 75.137 tỷ đồng (tương đương 4,13 tỷ USD, gấp 2,4 lần năm 2005)
GDP bình quân/người (2010) 29,65 triệu đồng/người (tương đương 1.629 USD giá thực tế)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Công nghiệp - Xây dựng: 57,2%; Dịch vụ: 34,1%; Nông lâm thủy sản: 8,7%

Phân loại và đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái:

  • Tài nguyên tự nhiên: Vườn quốc gia Cát Tiên, rừng Mã Đà, Suối Tre, thác Trị An, thác Đá Hàn, thác Ba Giọt, thác Mai - hồ Nước Nóng, Đá Ba Chồng, Đảo Ó - Đồng Trường, núi Chứa Chan, vùng miệt vườn cù lao (Hiệp Hòa, Ba Xê, Cỏ, Tân Vạn, làng bưởi Tân Triều).
  • Tài nguyên nhân văn: Khảo cổ (Mộ cự thạch Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa), di tích lịch sử - cách mạng (Chiến khu D, Căn cứ Khu ủy Miền Đông, Địa đạo Nhơn Trạch, Tòa Lao Tân Hiệp, Nhà Xanh), kiến trúc tín ngưỡng (Chùa Bửu Phong, Đại Giác, Long Sơn, Bửu Quang, Chùa Gia Lào, Văn miếu Trấn Biên, Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Đền thờ Nguyễn Tri Phương), làng nghề (gốm Hóa An, gỗ mỹ nghệ Xuân Tâm, đúc gang Thạnh Phú, trồng dâu nuôi tằm Nam Cát Tiên) và lễ hội dân tộc (Sayangva của người Chơ Ro, đâm trâu của người Mạ, lễ Kỳ Yên).

Hiện trạng hoạt động du lịch giai đoạn 2001 – 2010: Khóa luận tổng hợp lượng khách, ngày khách, doanh thu du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú, doanh nghiệp lữ hành và lao động ngành du lịch phân theo trình độ chuyên môn. Đánh giá cho thấy ngành du lịch Đồng Nai đã có bước tăng trưởng về doanh thu và cơ sở lưu trú nhưng còn tồn tại nhiều điểm nghẽn: tính chất mùa vụ cao, thời gian lưu trú ngắn, sản phẩm du lịch đơn điệu, cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các điểm du lịch vùng sâu chưa hoàn chỉnh, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao và công tác xúc tiến quảng bá chưa tương xứng với tiềm năng.

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai

Chương 3 xây dựng các mục tiêu, quan điểm và định hướng phát triển du lịch sinh thái Đồng Nai:

  • Định hướng thị trường: Phân đoạn thị trường quốc tế (ưu tiên khách Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Tây Âu, Đông Bắc Á có nhu cầu nghiên cứu, dã ngoại) và thị trường nội địa (chú trọng nguồn khách từ TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh Đông Nam Bộ và khách nội tỉnh vào dịp cuối tuần).
  • Định hướng tổ chức không gian và tuyến du lịch:
    • Cụm tuyến trọng điểm: TP. Hồ Chí Minh - Biên Hòa; cụm liên hoàn nội bộ tỉnh.
    • Các tuyến du lịch nội tỉnh: (1) Tuyến sông Đồng Nai; (2) Tuyến Vĩnh Cửu - Thống Nhất - Trảng Bom; (3) Tuyến Long Thành - Nhơn Trạch; (4) Tuyến Tân Phú - Định Quán; (5) Tuyến Xuân Lộc - Long Khánh - Cẩm Mỹ.
    • Mạng lưới tuyến du lịch liên tỉnh kết nối với Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương và Bình Phước.
  • Hệ thống 7 nhóm giải pháp thực hiện: (1) Giải pháp về cơ chế chính sách và cải cách thủ tục hành chính; (2) Giải pháp về công tác quy hoạch; (3) Giải pháp huy động vốn; (4) Giải pháp xúc tiến đầu tư; (5) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; (6) Công tác tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch; (7) Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và mở rộng thị trường.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa được nguồn tài nguyên du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai thông qua hệ thống bảng điểm và bảng xếp hạng phân cấp mức độ thuận lợi của từng điểm đến.
  • Làm rõ bức tranh chuyển dịch kinh tế - xã hội của Đồng Nai (giai đoạn 2005 – 2010, tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng từ 28% lên 34,1%, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 29,65 triệu đồng, cao gấp 1,34 lần mức bình quân cả nước).
  • Chỉ ra thực trạng phân bố tài nguyên: diện tích rừng tự nhiên chiếm ưu thế (70,8% năm 2010), hệ thống cảnh quan sông - hồ - thác đa dạng nhưng mức độ khai thác phục vụ du lịch sinh thái chưa đồng đều, chủ yếu tập trung dạng tự phát hoặc phục vụ vui chơi giải trí đơn thuần.
  • Phân chia cụ thể 5 tuyến du lịch nội tỉnh gắn liền với các trục giao thông chính và đặc trưng tài nguyên địa phương.

Đóng góp của đề tài:

  • Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ Địa lý du lịch, khắc phục khoảng trống của các ấn phẩm trước đó (vốn chỉ dừng lại ở sách hướng dẫn đầu tư, cẩm nang giới thiệu danh thắng hoặc phản ánh từng mảng nhỏ lẻ).
  • Đưa ra được khung đánh giá định lượng kết hợp khảo sát thực địa mức độ hài lòng của du khách ($n=50$ phiếu/điểm) làm căn cứ khoa học cho công tác quy hoạch không gian du lịch sinh thái cấp tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và kinh phí nghiên cứu thực địa, tác giả chưa thể triển khai điều tra khảo sát trực tiếp tại toàn bộ hơn 60 khu, điểm du lịch trên địa bàn toàn tỉnh mà chỉ tiến hành khảo sát mẫu chuyên sâu tại 3 điểm du lịch sinh thái tiêu biểu (KDLST Câu Lạc Bộ Xanh, KDLST Trang Trại Vườn Xoài, KDLST Thác Giang Điền).
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học đối với cộng đồng dân cư địa phương tham gia chuỗi cung ứng du lịch sinh thái; nghiên cứu sâu hơn về sức chứa sinh thái và ngưỡng chịu tải môi trường tại các vùng lõi bảo tồn như Vườn quốc gia Cát Tiên và Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên ngành Địa lý, Địa lý Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành, Việt Nam học và các nhà quản lý quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Khung 10 tiêu chí và phương pháp cho điểm đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên và nhân văn (Chương 1).
    • Hệ thống dữ liệu tổng hợp về điều kiện tự nhiên, địa chất, thủy văn, quỹ đất, diện tích che phủ rừng và số liệu kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 – 2010 (Chương 2).
    • Phương án phân chia các tuyến du lịch nội tỉnh và liên tỉnh (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả sử dụng hệ thống tiêu chí nào để đánh giá tiềm năng điểm du lịch sinh thái?
Tác giả sử dụng 10 tiêu chí chia làm hai nhóm: Nhóm thu hút khách gồm Vị trí địa lý (hệ số 1), Độ hấp dẫn (hệ số 3), Tính đa dạng sinh học (hệ số 3), Tính an toàn (hệ số 1), Tính bền vững (hệ số 3); Nhóm quản lý & khai thác gồm Cơ sở hạ tầng & vật chất kỹ thuật (hệ số 2), Tính thời vụ (hệ số 2), Tính liên kết (hệ số 3), Sức chứa du lịch (hệ số 1) và Tính hiệu quả (khảo sát tỷ lệ khách muốn quay lại).

2. Địa hình tỉnh Đồng Nai có đặc điểm phân hóa như thế nào ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch?
Địa hình Đồng Nai chia làm 3 dạng chính: Cao nguyên và đồng bằng chiếm 88,7% diện tích (độ cao 1 – 400m, gồm bậc thềm phù sa cổ và các đồi bazan lượn sóng); Núi thấp chiếm 5,8% (độ cao 200 – 840m, phân bố ở phía Đông và Đông Bắc); Mặt nước chiếm 5,5%. Sự phân hóa này tạo nên hệ sinh thái đa dạng từ rừng núi, đồi bát úp đến hệ thống thác ghềnh và sông hồ trù phú.

3. Tỷ lệ che phủ rừng của Đồng Nai biến động ra sao từ sau năm 1975 đến năm 2010?
Tỷ lệ che phủ rừng của Đồng Nai đạt 47,8% vào năm 1976, giảm xuống mức 21,5% vào năm 1981, sau đó nhờ các chương trình trồng rừng và khoanh nuôi bảo vệ, độ che phủ rừng phục hồi đạt khoảng 30% vào năm 2010 (trong đó rừng tự nhiên chiếm 70,8% tổng diện tích rừng).

4. Điểm khảo sát thực tế mức độ hiệu quả khai thác của du khách được tiến hành ở những khu du lịch nào?
Khảo sát thực địa được tiến hành với dung lượng mẫu $n = 50$ người/điểm tại 3 khu du lịch sinh thái tiêu biểu trên địa bàn tỉnh: Khu du lịch sinh thái Câu Lạc Bộ Xanh, Khu du lịch sinh thái Trang Trại Vườn Xoài và Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền (ngày 24/04/2011).

5. Tác giả đề xuất bao nhiêu tuyến du lịch sinh thái nội tỉnh cho Đồng Nai?
Tác giả định hướng quy hoạch 5 tuyến du lịch nội tỉnh: (1) Tuyến sông Đồng Nai; (2) Tuyến Vĩnh Cửu - Thống Nhất - Trảng Bom; (3) Tuyến Long Thành - Nhơn Trạch; (4) Tuyến Tân Phú - Định Quán; (5) Tuyến Xuân Lộc - Long Khánh - Cẩm Mỹ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Liễu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh phân tích toàn diện về tiềm năng tài nguyên tự nhiên, nhân văn cũng như thực trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010. Thông qua phương pháp đánh giá định lượng theo hệ tiêu chí khoa học kết hợp khảo sát thực tế, công trình đã chỉ rõ những lợi thế vượt trội cùng các điểm nghẽn về hạ tầng, sản phẩm và liên kết ngành. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng 5 tuyến du lịch nội tỉnh và 7 nhóm giải pháp đồng bộ, đóng vai trò là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho công tác quy hoạch phát triển du lịch sinh thái tại địa phương.