Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thuật ngữ Thủy sản Thủy sản là những loại động vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp xác,…có thể qua hay không qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm. Thủy sản là nguồn tài nguyên có thể tái tạo và có giá trị kinh tế rất lớn. Có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi nơi trên trái đất cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt.
Ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế kĩ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau.[10] Thủy sản sống là động vật thủy sản còn sống, hoặc đang giữ ở trạng thái tiềm sinh. Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Nuôi trồng thủy sản a. Khái niệm về nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủy sản (tiếng Anh: aquaculture) là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt, lợ và mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào qui trình nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể.
[10] Tuy nhiên, khi nói về nuôi trồng thủy sản cũng có thể phân chia chúng thành các nhóm khác nhau: - Theo kỹ thuật nuôi hay hệ thống nuôi, gồm: nuôi ao, nuôi lồng (bè), nuôi nước chảy, nuôi đăng quầng,… - Theo đối tượng nuôi, gồm: nuôi cá, nuôi tôm,… - Theo môi trường nuôi, gồm: nuôi nước ngọt, nước lợ, nuôi nước mặn,… - Theo tính chất môi trường, gồm: nuôi vùng nước lạnh, nuôi vùng nước ấm, nuôi vùng cao, nuôi vùng đồng bằng, nuôi ven biển,… e 4 Theo cách hiểu khác, NTTS là những tác động bất kỳ nào của con người làm cải thiện sự sinh trưởng của một sinh vật nào đó trong một diện tích ao nuôi nào đó. Có tác giả lại cho rằng NTTS là một hay nhiều tác động (của con người) làm ảnh hưởng đến chu kì sống tự nhiên của một sinh vật nào đó. Một số tác giả quan niệm NTTS đơn giản hơn, đó là nuôi hay canh tác động và thực vật dưới nước do xuất xứ từ thật ngữ aqua (nước) + culture (nuôi). NTTS bền vững chỉ các hoạt động nuôi trồng mang lại phúc lợi kinh tế cho con người, có tác động tốt về mặt xã hội và hiệu quả việc sử dụng nguồn lợi tự nhiên.
Trong phát triển NTTS bền vững môi trường và nguồn lợi thủy sản được sử dụng hợp lí, không gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái, đáp ứng được nhu cầu của thế hệ người tiêu dùng sản phẩm thủy sản nuôi trên toàn thế giới. Diện tích mặt nước NTTS là diện tích đã được sử dụng cho hoạt động NTTS tính cả diện tích bờ bao; đối với diện tích ươm, nuôi giống thủy sản thì bao gồm cả diện tích phụ trợ cần thiết như ao lắng lọc, ao xả. Chỉ tiêu này không bao gồm diện tích đất có mặt nước chuyên dùng vào việc khai thác nhưng được tận dụng NTTS như hồ thủy lợi, thủy điện. Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Tái tạo nguồn lợi thủy sản là quá trình tự phục hồi hoặc hoạt động làm phục hồi, gia tăng nguồn lợi thủy sản. [10] Tóm lại, ngành thủy sản bao gồm: nuôi trồng và đánh bắt, là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong các hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Các hình thức NTTS chủ yếu a. Nuôi ao Là các hình thức nuôi các loài thủy sản trong ao đất (ao nằm trong đất liền).
Có nhiều loại ao khác nhau được thiết kế cho nuôi thủy sản như ao cho cá đẻ, ao ương cá bột, ao nuôi cá thương phẩm,… e 5 b. Nuôi mặt nước lớn Là các hình thức nuôi các loài thủy sản trong các hồ thuỷ lợi, thuỷ điện có. diện tích lớn. Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi quảng canh, sản lượng thấp.
Nuôi lồng Là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các lồng làm bằng lưới có kích thước rất khác nhau trên sông, hồ chứa hay hồ thuỷ điện. Nuôi ruộng Là hình thức nuôi các loài thuỷ sản kết hợp với trồng lúa trong ruộng. Nuôi bể Là hình thức nuôi các đối tượng thuỷ sản trong bể xi măng, hay bể lót bạt như: Cá Hồi, cá Tầm, baba… 1. Khai thác thủy sản Khai thác thủy sản (KTTS) là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác.
Tàu cá là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác chuyên dùng cho khai thác, nuôi trồng, bảo quản, chế biến thủy sản. Chế biến thủy sản Công nghiệp chế biến là hoạt động nối tiếp sản phẩm của ngành khai thác, nó không chỉ bảo tồn, giữ gìn chất lượng nguyên liệu mà còn nâng cao giá trị và tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng cao. Nhờ đó, mà khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu thị trường tốt hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thủy sản Tăng trưởng và phát triển kinh tế thủy sản bao gồm sự tăng lên về qui mô sản lượng theo thời kỳ và sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội trong ngành.
Để tạo ra được sự tăng trưởng và phát triển, các yếu tố nguồn lực phải được sử dụng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Các nguồn lực thủy sản bao gồm: nhóm nguồn lực tự nhiên và nguồn lực kinh tế - xã hội. Mỗi nguồn lực có vai trò nhất định và tác động mạnh đối với sự phát triển ngành thủy sản. Nhân tố tự nhiên Nhân tố tự nhiên là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triển của ngành thủy sản.
Trong nhóm nhân tố tự nhiên thì diện tích mặt nước (thủy vực), khí hậu là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và phân bố của ngành thủy sản. Diện tích mặt nước (thủy vực) Diện tích mặt nước (thủy vực) được xem là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được trong hoạt động NTTS. Diện tích mặt nước bao gồm ao, hồ, sông, đầm, mặt nước ruộng trũng, biển,…nói chung là các loại hình mặt nước được sử dụng vào mục đích NTTS. Khí hậu Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là những sinh vật sống, chịu tác động của các điều kiện tự nhiên: khí hậu, thời tiết, nguồn nước, địa hình nơi sản xuất.
- Khí hậu, thời tiết: những vùng NTTS thích hợp nhất nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới nóng ẩm và một số nơi pha chút khí hậu ôn đới. Tài nguyên khí hậu thực sự quan trọng và đã trở thành một yếu tố đầu vào thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh thuỷ sản, như một món quà tặng của tự nhiên cho con người. Quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài thuỷ sản chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện khí hậu, nhất là yếu tố nhiệt độ môi trường sống. Hiện nay người ta chia các loài thủy sản thành 2 nhóm chính là: nhóm thuỷ sản nước lạnh (cold water species) và nhóm thuỷ sản nhiệt đới (tropical species).
Nhóm thuỷ sản nước lạnh có khả năng chịu được nhiệt độ rất thấp và có thể sống qua mùa đông (như cá hồi, cá Tầm). Nhóm thuỷ sản nhiệt đới là những loài sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới và có thể chịu đựng được nhiệt độ cao (như cá rô phi, cá chép,…). Nguồn lợi thủy sản Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản, bao gồm các loài cá, nhóm nhuyễn thể, nhóm giáp xác, nhóm thực vật… e 7 1. Chủ trương chính sách phát triển thuỷ sản Các chính sách và thể chế có liên quan chặt chẽ đến phát triển NTTS như các vấn đề về kinh tế, thương mại, xuất khẩu thủy sản, hoặc vấn đề quản lí và sử dụng lĩnh vực sản xuất kinh doanh thủy sản, các dịch vụ phục vụ cho NTTS như sản xuất và kinh doanh con giống thủy sản, các loại hóa chất, kháng sinh và các chế phẩm sinh học cho NTTS, các chính sách về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chính sách khuyến nông - khuyến ngư, chính sách về vốn, tín dụng…cho NTTS.
Nhìn chung, những chính sách đều có tác dụng thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển của NTTS nhằm mục đích tăng hiệu quả kinh tế từ NTTS, tạo nguyên liệu sạch và an toàn cho chế biến xuất khẩu, tăng cường sự đóng góp của ngành thủy sản vào tổng thu nhập của ngành thủy sản cũng như nền kinh tế quốc dân. Những chính sách này khi được thực thi có hiệu quả thì đều có tác dụng tăng hiệu quả sản xuất của các hoạt động sản xuất và kinh doanh thủy sản, tạo điều kiện cho người nuôi mở rộng mô hình sản xuất và tạo thêm việc làm cho người dân, gián tiếp góp phần xóa đói giảm nghèo cho các vùng nông thôn. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển thủy sản ở Việt Nam Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI xác định: “Khai thác bền vững, có hiệu quả nguồn lợi thủy sản, phát triển đánh bắt xa bờ, gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường biển. Phát triển nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, tập trung vào những sản phẩm, có thế mạnh, có giá trị cao; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi; đẩy mạnh áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và chế biến, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm.
Xây dựng ngành thủy sản Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.115) - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB, Chính trị Quốc gia, Hà Hội, 2011.