CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở khoa học của việc đánh giá tài nguyên đất và khả năng sử dung đất; 1.1_Nhu cầu và những nỗ lực của công tác diéu tra - đánh giá tài nguyên đất; L.1 Trên thế giới: Hiện nay dưới áp lực của sự gia tăng dân số nhanh chóng và nhu cẩu lương thực trên thế giới, tình trạng suy thoái nhiều vùng đất đang diễn ra. Hàng năm trong số hơn 1,5 tỉ ha sản xuất nông nghiệp trên thế giới có khoảng 5-7 triệu ha bị loại bỏ do xói mòn hoặc thoái hóa. Năm 1982 một công trình nghiên cứu của PAO đã kết luận rằng: năm 2000 trong số các nước đang phát triển sẽ có ít nhất là 64 quốc gia không đáp ứng đủ nhu cẩu lương thực, ước tính khoảng 1,072 triệu người (khoảng 30% dân số) trên thế giới lâm vào tình trạng thiếu lương thực. Đứng trước những thử thách nói trên, các tổ chức thế giới và các nhà khoa học ở nhiều quốc gia đã tiến hành những cuộc diéu tra và đánh giá tài nguyên đất không chỉ ở qui mô từng quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cẩu.
Năm 1960 Hiệp hội Khoa học Đất Quốc tế (Internation Socity of Seecle - ISS) đã để xuất một dự án điều tra về tài nguyên đất trên toàn thế giới — kết quả của dự án này là sự xuất hiện của bản đổ đất thế giới (các ấn bản năm 1969, 1974, 1988) và các báo cáo về tài nguyên đất thế giới của PAO (1961-1988). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi khái niệm “khả năng bén vững” (Suitainability) được sử dụng để đánh giá việc quản lý nguồn tài nguyên tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp, nhằm đánh giá khả năng thích nghỉ tương đối của đất đai đối với các kiểu sử dụng khác nhau sao cho đáp ứng được nhu cầu và mục tiêu của người sử dụng đất cũng như của cộng đồng tại chỗ. Xuất phát từ yêu cầu đó công tác đánh giá iém năng đất đai và khả năng sử dụng đất đai xuất hiện và triển khai ở nhiều quốc gia. SVTH: NGUYEN THỊ NGỌC HA 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD.s NGUYEN TẤN VIỆN I.2 Ở Việt Nam: Theo số liệu thống kê của Tổng cục Địa chính (tháng 11 năm 1999) diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay là 7,367 triệu ha (chiếm 22% diện tích tự nhiên) đã tăng khoảng 0,8 triệu ha so với thập niên 80.
Tuy vậy, song song với việc khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp, hàng năm ước tính khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp (đa số là diện tích đất màu mỡ) bị mất do quá trình đô thị hóa. Với tốc độ đô thị hóa hiện nay thì đến đầu thế kỷ này nước ta sẽ bị mất ít nhất khoảng | triệu ha đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay có khoảng 11,5 triệu ha đất hoang hóa và đổi núi trọc, trong đó ước tính khoảng 3 triệu ha có thể đưa vào sản xuất nông nghiệp. Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đã và đang đối mặt với áp lực tăng dân số và nhu cẩu lương thực.
Vì vậy việc duy trì và mở rộng diện tích đất canh tác ở nước ta là một nhu cầu cấp bách, nhưng đồng thời cũng phải có chiến lược, sử dụng hợp lý để ngăn chặn sự suy thoái của tài nguyên đất. Với yêu cầu đó công tác điều tra và đánh giá tiểm năng đất, khả năng sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam đã được thực hiện từ lâu, đặc biệt từ năm 1945 đến nay hàng loạt các nhà khoa học nhiều thế hệ nối tiếp nhau đã làm sáng tỏ các đặc điểm và tính chất của tài nguyên đất đai ở các vùng lãnh thổ nước ta làm cơ sở cho các phương hướng sử dụng và khai thác hợp lý tiém năng đất nông nghiệp ở Việt Nam. Đông Nam Bộ nói chung và Bình Phước nói riêng. là một trong những nơi có tiểm năng đất đai phong phú, chính sự giàu có này mà từ lâu đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm phát huy thế mạnh đất đai của tỉnh.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu tài nguyên đất: Từ khi loài người chuyển từ hái lượm, săn bắt sang nuôi trồng đã bắt đầu biết xem xét đất, chọn đất và canh tác trên đất.
“Lạc Điển Thời Lạc Việt” đã minh chứng cho các kiến thức về hiểu biết và sử dụng đất của ông cha ta xưa. Kart Mart đã từng nhận định rằng: "Đất là lớp phủ tơi xốp của vỏ lục địa, có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng, là tư liệu sản xuất cơ bản, chủ yếu và quí báu nhất ". Do đó, đất là tài nguyên cơ bản của loài người, của mỗi quốc gia bao gồm nhiều loại hình với đặc trưng cơ bản và giá trị sử dụng khác nhau. từ xưa, cùng với sự phát triển của các môn khoa học tự nhiên, việc nghiên cứu đất ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực đã được chú trọng.
SVTH: NGUYEN THỊ NGOC HA 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD.s NGUYEN TẤN VIEN Trong thực tiễn sử dụng đất từ xưa người dân địa phương đã tự điều tra, nghiên cứu đặc điểm đất nơi họ đang canh tác, qua đó nhiều loại đất đã được phân loại bắt nguồn từ những tên gọi dân gian như đất Potzon-Secnozom (ở Nga), đất Renzin (Ba Lan), và đất phèn (ở Việt Nam). Đến giữa thế kỷ XX khoa học về đất bắt đầu hình thành đầu tiên ở nước Nga bởi V.Docuchaev (1846-1903), Ông là người đầu tiên xác định chính xác sự hình thành đất làm cơ sở cho việc nghiên cứu và phân loại đất theo qui luật phát sinh. Từ đó, trên thế giới và sau này ở Việt Nam, đất trở thành đối tượng khoa học và diéu tra, nghiên cứu đất trở thành một ngành khoa học của loài người. Ở Việt Nam thời các triểu đại phong kiến nghiên cứu đặc điểm đất đai được xem là cơ sở để bố trí cây trồng, cấp đất, đánh thuế đất,.
và cũng được nâng lên thành các tiêu chuẩn để phân loại đất của các nhà nước phong kiến (như trong Vân Đài Loại Ngũ — Phủ Biên Tạp Lục). Từ thời ấy đến nay việc nghiên cứu đất dai và phân loại đất ở Việt Nam đã trở thành công tác, đòi hỏi ưu tiên ở tất cả các giai đoạn lịch sử (thời Pháp thuộc, chống Mỹ và thời bình) công tác này được xem là cơ sở chính yếu cho việc sử dụng đất và phát triển nông nghiệp ở nước ta.3 Cơ sở khoa học của việc đánh giá khả năng sử dụng đất: Nhằm ngăn chặn sự suy thoái của tài nguyên đất gây ra do sự thiếu hiểu biết hoặc khai thác quá mức, đồng thời nhằm hướng dẫn việc sử dụng và quản lý đất đai một cách hợp lý cho nhu cầu của loài người ở hiện tại cũng như trong tương lai. Việc đánh giá khả nang sử dụng đất được bất đầu từ thập niên 50 của thế kỷ XX, được xem là một nỗ lực của con người hướng tới sự phát triển bển vững. Nhu cầu của việc đánh giá khả năng sử dụng đất xuất hiện khi mà kết quả nghiên cứu riêng lẻ về đất không cung cấp được những hướng dẫn day đủ về cách thức và hiệu quả sử dụng đất đai.
Do vậy, để quản lý, qui hoạch và sử dụng đất một cách hợp lý một bước nghiên cứu kế tiếp cần thực hiện sau khi nghiên cứu đặc điểm đất nhằm xem xét tổng hợp giữa đất và các yếu tố tự nhiên khác (nước, khí hậu, địa hình) với các yếu tố vé sử dụng đất khác nhau, bước nghiên cứu này gọi là đánh giá khả năng sử dụng đất. Trên cơ sở đó đánh giá về hiện trạng sử dụng đất như thế nào? (hợp lý hay chưa và kết quả đem đến như thế nào?). Theo Stewart (1968) đánh giá đất đai là “đánh giá khả năng thích nghi của đất dai đối với các mục tiêu sử dụng của con người trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, qui hoạch vùng”. việc điểu tra nghiên cứu đất đai (soil) đơn thuần chỉ cung cấp những thông tin về tiểm năng trên cơ sở các tính chất của đất, Theo Paraphrasing Aan SVTH: NGUYEN THỊ NGỌC HÀ 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD.s NGUYỄN TẤN VIỆN Dahl (1958) “đánh giá khả năng sử dụng đất đai” sẽ cung cấp cho nông nghiệp những thông tin để hình thành các quyết định về sử dụng và quản lý đất đai.
Do vậy, việc đánh giá khả năng sử dụng đất đã được tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới, sau đó được thống nhất với tên gọi là “đánh giá đất đai” (Land Evaluation) tại Hội nghị Amsterdam (1950) của Hiệp hội Khoa học Đất Quốc tế (ISS). Nhằm đánh giá đất đai nhiều phương pháp khác nhau đã được tiến hành ở mỗi quốc gia trên thế giới, sự khác biệt này đã làm trở ngại đến việc trao đổi những thông tin và sử dụng đất đai trên thế giới. Vì vậy, yêu cầu tiêu chuẩn hóa thuật ngữ và phương pháp đã được đặt ra, dẫn đến việc biên soạn chung “khung công tác để đánh giá đất đai” (frame work for land evaluation) của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Dưới sự chủ trì của PAO (1976) khung tiến trình ngày càng được chỉ tiết hóa được xem như là cơ sở tổng quát của các hoạt động đánh giá khả năng sử dụng đất ở nhiều nơi trên thế giới.
Khi tiến hành đánh giá tiểm năng đất cũng như sự phân loại đất ở Việt Nam nói chung và ở Bình Phước nói riêng đều dựa trên cơ sở phân loại và đánh giá đất đai của PAO. SVTH: NGUYEN THỊ NGỌC HÀ 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD.s NGUYEN TẤN VIEN Theo PAO mục tiêu của việc đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích nghỉ (Suitability) của các dạng đất khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt được lựa chọn và cần nấm được các khái niệm về đất: Đất đai: (Land) bao gồm các yếu tố của môi trường tự nhiên của một khu vực địa lý có thể quan sát và đo lường được có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất (như lớp phủ thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, sinh vật,. Đất đai thường được mô tả dưới khái niệm “đơn vị bản đổ đất đai” (Land Mapping Unit - LMU), đây là vùng đất đai với các tính chất riêng biệt được khoanh định trên bản đổ, mức độ chỉ tiết phụ thuộc vào tỉ lệ bản đổ và qui mô nghiên cứu.