ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội, mức sống của ngƣời dân Việt Nam cũng đƣợc nâng lên rõ rệt. Nhu cầu vui chơi, giải trí, đi du lịch của ngƣời dân ngày càng cao. Bên cạnh các khu vui chơi náo nhiệt, những cảnh quan nhân tạo đẹp mắt và hấp dẫn thì rất nhiều ngƣời lại lựa chọn cho mình loại hình du lịch sinh thái, để đƣợc thƣ giãn, hoà mình vào thiên nhiên. Ở Hà Nội, theo thống kê có 27.756 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 7.58 ha rừng tự nhiên và 12.495 ha rừng trồng còn lại là những loại đất khác nhƣ núi đá, đất trống, vƣờn quả, cây nông nghiệp.
Rừng đƣợc phân bố tập trung nhiều nhất ở Ba Vì, Mỹ Đức và Sóc Sơn. Đây cũng là ba khu vực mà rừng có những đặc trƣng riêng. Rừng ở Ba vì đặc trƣng cho rừng tự nhiên trên núi đất, ở Mỹ Đức là rừng tự nhiên núi đá, ở Sóc Sơn là rừng trồng trên vùng đồi thấp. Với tính đa dạng cao của cảnh quan thiên nhiên, sự phong phú đặc biệt của các giống loài động thực vật, mức trong lành gần nhƣ tuyệt đối của môi trƣờng sinh thái, chứa đựng nhiều công trình văn hóa và di tích lịch sử, với vẻ đẹp cảnh quan lộng lẫy và tình trạng an ninh tốt, các khu rừng ở Hà Nội đã trở thành điểm đến hấp dẫn bậc nhất trong những ngày nghỉ cuối tuần và những kỳ nghỉ lễ tết của ngƣời dân Thủ đô và du khách muôn phƣơng.
Ở đó ngƣời dân và du khách đƣợc sống hoà mình với thiên nhiên, gần gũi với thiên nhiên, vừa giải trí, nghỉ dƣỡng, vừa tự mình tìm hiểu, khám phá những điều kỳ thú của thiên nhiên. Họ có thể tìm ở đó những cảm hứng, những kiến thức, ý niệm đạo đức, đức tính nhân bản, tình yêu thiên nhiên, tình yêu đồng loại, yêu cuộc sống, yêu quê hƣơng v. Trong những năm qua du lịch ở Hà Nội không ngừng phát triển. Mỗi năm rừng ở Hà Nội và các công trình văn hóa, các di tích lịch sử, các điểm đến tâm linh trong nó đã đón nhận hàng triệu du khách, góp phần cải thiện đời sống của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 ngƣời dân địa phƣơng.
Một trong những địa điểm du lịch đƣợc rất nhiều du khách biết đến là thắng cảnh chùa Hƣơng thuộc huyện Mỹ Đức. Tuy nhiên, bên cạnh du lịch tâm linh chùa Hƣơng thì nơi đây còn có nhiều tiềm năng du lịch khác mà du khách chƣa khám phá hết trong rừng đặc dụng chùa Hƣơng. Để phát huy ở mức cao những giá trị của rừng cho phát triển du lịch sinh thái ở Thủ đô nói chung và rừng đặc dụng chùa Hƣơng nói riêng đồng thời giảm thấp nhất những tác động của du lịch sinh thái đến tính nguyên vẹn, đến những giá trị vốn có của các khu rừng, cần nghiên cứu để nhận diện đƣợc những giá trị và tiềm năng to lớn của rừng cho phát triển du lịch sinh thái, và nhận diện những tác động hiện tại cũng nhƣ tiềm năng của du lịch sinh thái đến rừng, từ đó xây dựng những giải pháp quản lý du lịch thân thiện với rừng, có trách nhiệm với rừng và ngƣời dân địa phƣơng. Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá tiềm năng khai thác bền vững các sản phẩm du lịch từ rừng đặc dụng khu vực chùa Hương huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”.
Đề tài này hƣớng vào phân tích tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch của các hệ sinh thái rừng và tác động của du lịch đến các hệ sinh thái của rừng đặc dụng chùa Hƣơng và đƣa ra những giải pháp quản lý đối với ngành du lịch cho bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái rừng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm du lịch theo tổ chức du lịch thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những ngƣời du hành, tạm chú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục không quá một năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trƣờng sống khác hẳn nơi định cƣ”.
- Theo Liên Hiệp Quốc (1963) định nghĩa về du lịch nhƣ sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Theo Quốc hội nƣớc CHXHCNVN (Luật du lịch, 2017, Điều 3): - Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. - Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trƣờng, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tƣơng lai.
- Môi trƣờng du lịch là môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội nơi diễn ra các hoạt động du lịch. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cƣ có liên quan đến du lịch. - Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.
- Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch đƣợc phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cƣ quản lý, tổ chức khai thác và hƣởng lợi. - Du lịch văn hóa là loại hình du lịch đƣợc phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại. - Khái niệm du lịch tâm linh: Nguyễn Văn Tuấn (Du lịch ở Việt Nam–Thực trạng và định hƣớng phát triển, 2013) nêu: “Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chƣa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con ngƣời trong đời sống tinh thần.
Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con ngƣời về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngƣỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con ngƣời trong khi đi du lịch”.[Nguyễn Văn Tuấn (Du lịch ở Việt Nam–Thực trạng và định hƣớng phát triển, 2013)] - Khái niệm sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Khái niệm về khai thác bền vững: Cách khai thác sao cho các sản phẩm thu đƣợc vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại vừa đảm bảo duy trì nguồn lợi ổn định cho thế hệ mai sau. - Rừng đặc dụng Rừng đặc dụng đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, tín ngƣỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dƣỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng bao gồm: + Vƣờn quốc gia; + Khu dự trữ thiên nhiên; + Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; + Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngƣỡng; rừng bảo vệ môi trƣờng đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; + Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vƣờn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia.
Tổng quan về du lịch sinh thái bền vững 1. Khái niệm về du lịch sinh thái Từ những năm đầu thế kỷ XIX, khái niệm du lịch sinh thái (DLST) xuất hiện với hàm ý mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên nhƣ tắm biển, nghỉ mát, leo núi,. đều gọi là du lịch sinh thái. Đến nay, khái niệm du lịch sinh thái đã có sự phát triển với hàng chục kiểu khác nhau.
Năm 1987, một định nghĩa hoàn chỉnh về du lịch sinh thái đã đƣợc Hector Ceballos – Lascurain lần đầu tiên đƣa ra: Du lịch sinh thái là du lịch đến những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt nhƣ: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa đƣợc chấm phá (Bộ KHCN&MT, 2002). Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ năm 1998: DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trƣờng, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phƣơng.