CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài Đất đai ngày càng thể hiện được tầm quan trọng bậc nhất trong việc ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của đất nước. Việc làm thế nào để quản lý và SDĐ một cách tiết kiệm, hiệu quả nhất là vấn đề luôn luôn được nhà nước ta coi trọng.
Nó được thể hiện qua việc nhà nước ta dần hoàn thiện pháp luật đất đai qua các thời kỳ và giai đoạn gần đây nhất là LĐĐ năm 2003 [24]. Tuy nhiên, nó chỉ đáp ứng được phần nào trong việc quản lý và SDĐ mà còn nhiều bất cập trong việc quản lý và xử lý các vi phạm về đất đai. Ngoài việc pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập thì việc quản lý SDĐ ở các địa phương nói chung và huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nói riêng còn nhiều hạn chế trong việc phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về đất đai dẫn đến việc vi phạm về đất đai là khá phổ biến trên địa bàn huyện Đan Phượng. Để từng bước hạn chế tiến tới đẩy lùi tình trạng này, góp phần đưa công tác quản lý, sử dụng đất đai đi vào nề nếp, tuân thủ các quy định của pháp luật thì việc “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” là vấn đề rất cần được nghiên cứu.
Cơ sở thực tiễn của đề tài Trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp được giao 20 năm của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và huyện Đan Phượng nói riêng tình trạng tự ý chuyển đổi sang sử dụng vào các mục đích khác như: Làm nhà ở; xây dựng các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đào ao thả cá trên đất chuyên trồng lúa…không được phát hiện và xử lý kịp thời, cương quyết, đúng pháp luật đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đất đai, mất công bằng trong sử dụng đất đai, trong nhiều trường hợp 5 là nguyên nhân gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại cơ sở. Vì vậy việc nghiên cứu “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hạn chế, tiến tới đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai trong sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết và cấp bách. Cơ sở pháp lí của đề tài Cơ sở pháp lí của đề tài là các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến công tác xác định và xử lý vi phạm luật đất đai, bao gồm những văn bản chính sau: 1- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; 2- Luật Đất đai năm 2003; 3- Bộ luật Dân sự năm 2005; 4. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã được sửa đổi năm 2007 và năm 2008; 5- Nghị định số 181/2004 NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
6- Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; 7- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; 8- Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008; 6 9- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; 10- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; 11- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; 12- Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 26/8/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; 13- Công văn số 483/UBND – TNMT ngày 26 tháng 07 năm 2010 của UBND huyện Đan Phượng. Về việc tăng cường công tác quản lý đất đai trong toàn Huyện; 14- Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành quy định về trình tự, thủ tục cho phép hộ gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao liền kề và đất nông nghiệp xen kẹt trong khu dân cư (không thuộc đất công) sang đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội; 15- Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 27/04/2012 của UBND huyện Đan Phượng về triển khai thực hiện quyết định số 40/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của UBND thành phố Hà Nội 16- Kết luận số 01/KL-ĐU ngày 29/05/2012 của Ban chấp hành Đảng bộ xã, về việc tổ chức triển khai Quyết định số 40/2011 của UBND thành phố Hà Nội và Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 27/04/2012 của UBND huyện Đan Phượng. KHÁI QUÁT VỀ VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Khái niệm vi phạm pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn của hành vi con người. Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài của con người trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Mỗi hành vi đều được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, mà chủ thể ý thức được và chủ động thực hiện nó. Có thể hiểu vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Khái niệm vi phạm hành chính Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu chung là “các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hành chính” [6]. Ở Việt Nam, định nghĩa Vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu tại Điều 1, Pháp lệnh xử phạt Vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.[21] Pháp lệnh xử lý Vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý Vi phạm hành chính năm 2002, không định nghĩa Vi phạm hành chính trực tiếp mà được quy định một cách gián tiếp thông qua khái niệm “xử phạt Vi phạm hành chính”: “Xử phạt Vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và 8 theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.[24] Hiện nay, có nhiều quan điểm cho rằng Vi phạm hành chính có lẽ còn nguy hiểm hơn nhiều lần một số tội phạm nặng nhất như giết người, vì chúng giết môi trường sống của con người, tức là gián tiếp, có khi là trực tiếp giết nhiều người và hủy hoại môi trường sống của nhiều thế hệ mai sau. Vì vậy, “Vi phạm hành chính ở nước ta là loại hành vi gây bất ổn cho xã hội rất lớn, gây nguy hiểm cho xã hội rất lớn so với nhiều nước”. Tuy nhiên về mặt lý luận chung, các nhà khoa học pháp lý đều thừa nhận: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật” [17].
Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật đất đai như sau: Vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật, được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quyền, lợi ích của Nhà nước, với vai trò là đại diện cho chủ sở hữu, quyền và lợi ích của người SDĐ đai, cũng như các quy định và chế độ sử dụng các loại đất [23]. Khái niệm Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, SDĐ đai lần đầu tiên được ghi nhận tại Điểm 1 mục I Thông tư số 278-TT/ĐC ngày 07/3/1997 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04-CP ngày 10/01/1997 của Chính phủ về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, SDĐ đai là những hành vi làm trái với quy định về quản lý, SDĐ đai nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự” [28]. Khái niệm này mới chỉ phản ánh được mặt khách quan của vi phạm, mà không đề cập đến mặt chủ quan và chủ thể của Vi phạm hành chính. Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (sau đây 9 gọi là Nghị định số 182/2004/NĐ-CP) đã sửa lại khái niệm trên như sau: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [7].